Bốn Mươi Năm DÂU BỂ

Đoàn kim bảng

Tháng 1/1971 sau khi nhận Bronzer Star Medal của Hoa Kỳ

Tháng 1/1971
sau khi nhận Bronzer Star Medal của Hoa Kỳ

  1. MUA ĐI-BÁN LẠI.

 

“Phen này ông quyết đi buôn “thuốc”

Thiên hạ bao nhiêu đứa đốt tiền…”

(nhái) thơ Trần Tế Xương.

 

Tháng 5/1975.

Sau ngày đất nước lọt vào tay quân thù 30-4-1975, lòng người dân Miển Nam tan nát, biết bao nhiêu gia đình ly tán vì kẻ ở người đi. Nhìn những tên “cán ngố” từ rừng rú vào, mặt vênh váo, đi nghênh ngang trên các đường phố Sài Gòn, tôi đã định đi theo người bạn vào chiến khu vùng Bàu Cá, Long Khánh để tiếp tục chiến đấu, nhưng không thể làm được khi gia đình và vợ con đang gặp nhiều khó khăn trước mắt. Cố bám trụ tại Sài Gòn để nghe ngóng tin tức.

Tôi lang thang trên các đường phố SG, thấy thiên hạ nhốn nháo trong các khu chợ trời mới mọc lên sau ngày 30-4. Từ Lăng Cha Cả đến khu “bồng bênh” Quách Thị Trang. Từ Lý Thái Tổ sang tận khu Phú Nhuận, dâu đâu cũng thấy dân chúng tụ tập bán buôn đủ thứ, bởi ai cũng đang lo chạy cơm hàng ngày.

Trong một lần lang thang, tôi đã tình cờ gặp lại Thám, Bùi Thám, người bạn cùng khóa 25/SQCB Thiết Gíap. Chàng Sĩ quan trẻ tuổi đẹp trai, ngày đó còn độc thân. Người đầu tiên và duy nhất trong quân sử Thiết Giáp Binh/QLVNCH đã trực tiếp điều động 5 chiếc chiến xa M48 dưới quyền, chận đánh và bắn chìm một tàu vận tải hạng nặng của CSBV tại cửa biển Mỹ Thủy, Hải Lăng, Quảng Trị ngày 20 tháng 6 năm 1972. Nhà Thám ở Kontum, thành phố của trùng điệp núi rừng cao nguyên, bên dòng sông Dabla. Nhưng sau ngày 30-4-1975, chàng Sĩ quan Kỵ Binh “hiển hách” ngày nào,  không thể về quê, mà phải tá túc tại nhà người quen ởSài Gòn.

Lúc đó, vợ tôi còn là công chức Bộ Y Tế, đồng lương thì khiêm nhường, chỉ đủ nuôi thằng con 1 tuổi và cái thai 6 tháng trong bụng, chưa biết sẽ bị đuổi việc khi nào vì là “vợ SQ chế độ cũ”.

Là dân hút thuốc, nên nghe phong phanh thuốc lá lúc này rất có giá, tôi và Thám hỏi thăm nơi này nơi nọ, để “mua đi bán lại” kiếm lời, lấy tiền độ nhật qua ngày chờ thời cơ.

Thế là hai chàng kỵ mã xưa từng cỡi ngựa sắt M113-M48 rong ruổi trên khắp chiến trường. Vết xích những con chiến mã của tôi đã cày nát những mật khu từ Hố Bò đến Bời Lời, từ Mỏ Vẹt Ba Thu đến vùng “Tây Ninh nắng nung người”. Thám thì làm bạt vía quân thù trên khắp các chiến trường máu lửa Trị Thiên. Nay cũng “ngựa sắt” nhưng đạp toát cả mồ hôi từ quận 10 sang tận “kho 5” Khánh Hội, năn nỉ mãi, bà chủ vựa, mặt hoa da phấn, chuyên thu mua thuốc lá và các loại hàng hóa do dân vào kho 5 “hôi của” sau ngày mất nước, bán lại cho bọn tôi mỗi thằng 2 cây thuốc “Craven A” con mèo chính hiệu với giá “ Chị thông cảm mấy em xưa là lính nên mới bán giá này, để các em bán lại kiếm lời nuôi con”.

Nghe sao cảm động ghê gớm!!!

Có thuốc trong tay, hai chàng kỵ mã hí hửng cong lưng đạp xe giữa Sài Gòn tháng 5 nắng như đổ lửa trên đầu. Khát nước khô cổ họng hai thằng cũng chỉ mua mỗi thằng một ly trà đá. Bâygiờ còn đâu cái thời hoàng kim, khát nước là đến Câu Lạc Bộ đơn vị uống bia, cafe đá “ghi sổ”, cuối tháng đã có ông SQ Tài Chánh trừ vào lương.

Chúng tôi đạp xe vòng quanh các con đường từ Quận Nhất đến Quận Ba, nơi nào thấy xe thuốc lá bán lẻ bên hè là tấp vào hỏi bán. Lúc đầu còn hớn hở vui vẻ, quên cả mệt nhọc, nhưng dần dần, nắng càng ngày càng gay gắt mà 4 cây thuốc lá vẫn cứ ngoan ngoãnnằm yên trong bị, chưa bán được!!!

Mấy anh bán đắt quá, làm sao em bán lẻ có lời.

-Mấy cậu mua hớ rồi, thuốc này người ta bỏ cho tôi còn thấp hơn giá các cậu mua…

Dần dần, khi thấy xe bán thuốc lá bên đường là cả hai đều ngao ngán, ngại ngùng không dám tấp vô chào hàng. May thay, cuối cùng thì “Thánh nhân cũng đãi kẻ khù khờ”, một em thật dễ thương ngồi bán thuốc lẻ vùng chợ Tân Định. Sau khi tôi năn nỉ muốn đứt hơi mà không có kết quả, Thám vào cuộc, hỏi thăm, biết em là  con của một người “Thương binh VNCH”, lớ ngớ mới ra lò, hoặc vì cảm thông với những lời “khai báo thành thật-Anh vẫn còn phòng không gối chiếc” của Thám, nên cuối cùng cũng mủi lòng, mua lại “đúng y chang” cái giá mà bọn tôi mua từ “kho 5 Khánh Hội”. Hú hồn.

Thế là giấc mơ nhỏ nhoi chỉ là kiếm tiền đắp đỗi qua ngày để  chờ thời cơ của hai chàng kỵ mã, cũng đành tan theo mây khói, chỉ còn biết ngồi nhà ăn “báo cô” đợi ngày lên đường chui vào “lò tàn phá nhan sắc” mang tên “trại cải tạo”. Mất nước là mất tất cả!

  1. CÁI MỀN TRUNG CỘNG.

Sau 6 năm trong các trại tù “cải tạo” từ miền Nam ra Pleiku. Cuối năm 1981, tôi thình lìnhđược gọi tên “tha về” vào một buổi sáng ngồi xếp hàng, trong sân của trại tù Gia Trung, Pleiku, chờ báo cáo ra khỏi trại để đi lao động. Không thể ngờ là mình có thể được thả, tôi bán tín bán nghi, khi vào trong Hội Trường để làm thủ tục giấy tờ, tôi phải đích thân hỏi lại tên Công an cầm danh sách tù được tha mới yên tâm. Bọn tôi được tập trung vào một Đội đặc biệt, làm “chùa” cho trại đúng 1 tháng. Cuối cùng thì chúng tôi cũng được dẫn lên “Khu Trung Tâm” để nhận giấy ra trại. (Ghi ngày tháng được thả 1 tháng trước. Sau này, nhiều tù cải tạo phải ở trong trại trên 3 năm nhưng không được Mỹ chấp nhận cho đi diện H.O. chỉ vì giấy ra trại ghi chưa đủ 3 năm!).

Bọn thân nhóm tôi được thả gồm 4 tên: Tôi-Thiết Giáp. Nguyễn Tấn Ích-Hải Quân (nhà ởKiên Giang, Rạch Gía). Phạm Xuân Bách-Không Quân (nhà gần sân vận động Cộng Hòa, SG) và Hồng Khắc Bích (Biệt Kích 81?) nhà ở ngay sau chợ Trương Minh Giảng, SG.

Khi vào trại, mỗi người tù được cấp phát một cái mền sọc “đỏ xám” của Trung Cộng. Nayđược “tha” phải trả lại trại (tự động vào bỏ trong Hội Trường) để nhận một bộ đồ “bà ba” màu nâu và 60 đồng, coi như một “ân huệ” dành cho những “tù cải tạo tốt”. Tiền thì đã cótrong tay, nhưng chúng tôi được thông báo là tên cán bộ cấp phát quần áo đang đi chơi ngoài Pleiku, khoảng 4 giờ chiều mới về! Đúng là bọn ăn cướp.

Cầm giấy ra trại trên tay lúc 11 giờ trưa, ai ai cũng chỉ muốn thoát thật nhanh ra khỏi nơi này. Lúc đó, bực quá, tôi nói với mấy thằng bạn: “Tụi mày ăn cướp bộ quần áo của ông thì ông cũng “chơi” mày cái khác bù lại”. Bọn tôi nháy nhau canh chửng để một thằng sẽ vào Hội trường “chôm” cái mền đem ra ngoài bán làm lộ phí. Hôm đó khoảng hơn 100 tù cải tạođược thả đang còn làm giấy tờ ngoài sân, Hội trường vắng tanh…

Sau khi cái mền mới nhất, trong số mền mà tù cải tạo phải trả lại, đã nằm yên trong bao lô,bọn tôi cuốc bộ khoảng 1 km ra đường Quốc lộ 19 đón xe đò về Quy Nhơn. Coi như đổi 4 bộ quần áo lấy có 1 cái mền…Sau đó nghĩ lại hành động của tôi thật liểu lĩnh. Nếu bị tụi Công an phát giác, chắc chắn tôi sẽ bị giữ lại không biết bao lâu sau mới được về.

Đến Quốc lộ 19 (Qui Nhơn-Pleiku) cũng may tài xế xe đò thấy tù cải tạo mới được tha, cho đi ké không lấy tiền nhưng phải đứng bám vào sau xe. Chẳng sao, miễn là thoát khỏi nơi này càng sớm càng tốt. Lúc qua đèo An Khê, sương mù đầy trời, chiếc xe chạy bằng than ì ạch lết từng thước lên đèo. Lết đến đâu, bọn tôi phụ lơ xe chặn cục gỗ vào bánh xe để xe khỏi bị tuột xuống. Xe đổ đèo còn nguy hiểm hơn lúc lên , tài xề chạy ziczac để tốc độ chậm lại, bốn người cầm bốn khúc gỗ vuông chạy theo, chặn bốn bánh xe từng chặp. Mỗi khúc quanh nguy hiểm trên đèo, đều có một xác xe co dúm, hoặc bể toang vì bị tai nạn trước đây, như để răn đe cho tài xế lái cẩn thận.

Thời chiến tranh, Quốc lộ 19 là “tử lộ”, do đó các đoàn xe tiếp tế của Hoa Kỳ từ miền duyên hải lên vùng cao nguyên đều phải có trực thăng võ trang và Lữ Đoàn GUN TRUC (Xe vận tải có gắn đại liên)  đi theo hộ tống. Theo thống kê của quân đội Hoa kỳ, một tháng có 30 ngày thì đã bị bọn VC phục kích tại đoạn đường này trung bình hết 22 lần! Thế nhưng đối với Quân Lực VNCH thì ngược lại. Những con thần mã của Lữ Đoàn II Kỵ Binh, của Thiết Đoàn 3KB, TĐ8KB đã đánh cho bọn chúng phải chạy thất điên bán đảo nhiều trận cũng tại chính “con lộ máu” này.

Đến bến xe đò Quy Nhơn, 4 thằng bọn tôi bước vào một quán ăn bên đường. Chưa dámgọi thức ăn vì mỗi thằng chỉ có 60 đồng dằn túi để đi từ Quy Nhơn về Sài Gòn (nghe đâu vé xe lửa hết 50 đồng một người rồi). Tôi kêu bà chủ quán lại và ngỏ ý muốn bán cái mền lấy tiền ăn. Với con mắt nhà nghề của người buôn bán, bà chủ hỏi:

-Mấy cậu cải tạo mới được tha phải không? Tôi không mua nhưng để tôi kêu Cô Năm đến mua dùm cho mấy cậu…Bà thở dài: thật tội nghiệp!

Cái mền được Cô Năm, mồm “dẻo như kẹo kéo” mua với giá thật “nhân từ” là 60 đồng. Sau khi trả tiền cái mền, Cô Năm còn hỏi bọn tôi có quần áo do trại cấp phát hay không? nếu có,Cô sẽ mua 30 đồng một bộ. Khi cô ta đi khỏi, mấy tay xe ôm ngồi bàn bên nói

-Nếu các anh mang ra ngay đầu chợ bên kia đường sẽ bán được 80 đồng.

Như vậy 30 đồng/bộ quần áo x 4= 120 đồng. Chúng tôi đã bị tụi VC lừa một “keo” khi nghe lệnh “tập trung 10 ngày cải tạo” mà thành 6 năm. Bây giờ lại bị thêm một “keo” ăn cướp nữa đáng giá 60 đồng!

Có tiền bán cái mền, mỗi thằng hiên ngang gọi một dĩa cơm đùi gà chiên thơm lừng, cộng thêm chai bia “lên cơn”. tất cả chỉ tốn có 20 đồng. Bữa ăn tuyệt vời nhất sau 6 năm trong tù.

Mải mê tận hưởng không khí của những giờ phút đầu tiên được tự do, (mặc dầu chỉ là cái tự do ra khỏi nhà tù nhỏ, để bước vào nhà tù lớn) nên khi đến ga Diêu Trì, chúng tôi trễ chuyến xe lửa đã khởi hành đi SG trước đó nửa giờ đồng hồ. Phải ngủ lại đây đêm nay, 3 giờ chiều mai mới có chuyến xe lửa khác về SG.

Đây là lần đầu tiên chúng tôi đến Quy Nhơn nên chẳng biết đi đâu. Tấp vào cái quán café gần nhà ga xe lửa, kêu mỗi thằng một ly café đá và ổ bánh mì, ngồi “đồng” cho đến…trưa mai!Đến giờ quán đóng cửa, chẳng biết đêm nay ngủ nơi đâu, cả bọn gãi đầu xin cô chủ quán cho tá túc qua đêm. Cô chủ quán thật dễ thương:

Nhà em thì rộng lắm, chỉ có mẹ và em thôi, nhưng sợ mấy ông Công an ban đêm đi khám hộ khẩu. Mấy anh ngủ tạm ngoài hàng hiên này… để em đi lấy mền và chiếu ra cho các anh nằm.

Sau khi mua vé xe lửa lộ trình Quy Nhơn-Sài Gòn, mỗi vé 45 đồng. Vửa ngồi xuống ghế, còn đang ngơ ngáo ngó qua ngó lại, chợt hai phụ nữ khoảng 50 tuổi xách lại 8 bao (loại bao đựng cát của quân đội cũ) nhét vào gầm ghế dưới chân bọn tôi. Giọng nhẹ nhàng:

Mấy cậu cải tạo mới được thả ra phải không? Cho chị gởi mấy bao này, ai hỏi cứ nói là của trại cho, đem về làm quà cho gia đình nhé. Mọi phí tổn ăn uống để Chị lo cho máy cậu từ đây về đến Sài Gòn.

Cả bọn ngớ ra, im lặng. Sau 6 năm bị hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần trong lò khổ sai, bước ra xã hội bên ngoài, như “mán về thành”. Lấy gót chân đá đá vào những bao căng phồng dưới gầm ghế, thấy lạo xạo như hột café hay đậu xanh gì đó.

  1. TIẾNG RAO HÀNG CỦA MẸ TÔI.

Về tới nhà, với sức khỏe suy giảm sau 6 năm tù khổ sai CS, không nghề nghiệp chuyên môn, không hang rongtiền bạc, nên chưa biết làm gì để nuôi thân và nuôi vợ con.

Vợ thì đã bị nhà nước cho nghỉ việc từ lâu, vì có “chồng là SQ chế độ cũ” mà không chịu đi kinh tế mới. Từ ngày thất nghiêp, vợ tôi làm đủ thứ linh tinh cũng không ra tiền, giật đầu này vá đầu nọ để nuôi con. Những năm tôi còn trong tù, đứa con trai lớn là “cháu đích tôn” nên ông Nội giữ. Đứa nhỏ thì Bà Ngoại nuôi. Vợ tôi chạy như con thoi giũa Nội-Ngoại. Mỗi lần sang Nội thăm con, khi về phải trốn vì thằng lớn nhớ mẹ đòi theo. Vừa đạp xe vừa khóc vì nhớ con, nhớ chồng.  Nhiều khi nhớ và thương con quá, đem thằng lớn về Ngoại cho hai anh em chơi chung, chỉ sáng đến chiều là ông Nội đã sang đón cháu về, vì ông cũng nhớ cháu nữa. Ông nhìn cháu để nhớ đến thằng con còn đang trong tù.

Nhiều SQ “cải tạo” về không vốn liếng phải đi đạp xích lô. Những người có sức khỏe hơn thì đi “thồ” than hay lu chén từ Lái Thiêu, Bình Dương về Sài Gòn bán cho các vựa thu mua.

“Con nhà Xuyên”, Trung Úy Đinh Văn Xuyên, cựu Chi Đoàn Phó CĐ 2/10TK, hồi hắn mới ra trường làm Chi Đội Phó cho tôi ở 1/1O TK. Dân Huế thứ thiệt, gia đình có tiệm sửa xe đạp, xe gắn máy ở Mai Thúc Loan trong thành Nội. Mỗi lần hắn nói chuyện với tôi, hắn phải nói gọng Huế pha giọng Nam tôi mới hiểu. Ra tù, quyết chí bám Sài Gòn để làm ăn, không chịu về Huế trình diện, rồi cũng phải đi “thồ” lu chén từ Lái Thiêu về SG kiếm sống. Có lần đổ dốc cầu Bình Triệu, cu cậu mới ra nghề, chưa có kinh nghiệm, chiếc xe thồ tuột dốc không hãm được, đâm vào cột đèn, lu chén vỡ văng tung tóe, mất cả chì lẫn chài, phải bỏ nghề thồ lu chuyển qua thồ than, có ngã cũng còn vớt vát được ít vốn. Cả hai nghề đạp xích lô và đi “thồ”, tôi đều không làm được vì không có sức khỏe.

Đối với gia đình tôi, từ sau ngày 30-4-1975, tôi đi tù, vợ mất việc, nhà trở nên sa sút, Bố tôiđau yếu không làm gì được. Bố từng bị bọn Việt Minh treo giá cái đầu của ông trước khi di cư vào Nam và lúc ông làm Trưởng Ấp Chu Hải kiêm Ủy viên An ninh Xã Phước Hòa tỉnh Phước Tuy thập niên 1950-60, nên ông vẫn kỳ vọng tôi sẽ trở thành cánh tay nối dài, để thực hiện những mơ ước của ông là diệt sạch bọn Cộng sản trên đất nước, nhưng tôi cũng chỉ là kẻ“giữ quê quê mất, dựng nhà nhà tan” (Hà Huyền Chi). Ngày tôi từ giã gia đình để vào tù, Bố nằm trên võng ôm thằng con trai lớn của tôi, như ôm giữ chính thân xác tôi. Bố chỉ vỏn vẹn nói với tôi một câu: “Vận nước đã đổi thay, con nên giữ gìn sức khỏe để mong có ngày về”. Thế nhưng Bố không chờ được ngày tôi về để nhìn thấy con. Ông đã qua đời năm 1980 vì bệnh tật, trước khi tôi về được 1 năm.

Mẹ tôi hàng ngày phải gánh bánh chưng, bánh giò, bánh nếp đi bán rong tại khu Cư xá Sĩ Quan Chí Hòa để sinh sống. Khách hàng của Mẹ thường là vợ của những vị Tướng Tá/QLVNCH trước đây hiện đang nằm trong các trại tù của VC tại miền Bắc. Đa số nhà các Sĩ Quan trong khu cư xá đã bị bọn VC vào chiếm dụng, ăn cướp. Tuy nhiên vẫn còn số ít gia đình, vì “lỳ lợm” vẫn còn bám trụ ở đây được. Thấy tôi về chưa có việc gì làm, Mẹ bảo:

-Con đi bán bánh với Mẹ, Mẹ sẽ giới thiệu khách quen của Mẹ cho con.

Nghe Mẹ nói, tôi không cầm được nước mắt vì thương Mẹ. Mẹ ơi, xưa còn bé, Mẹ nắm tay con, tập cho con những bước đi đầu đời. Bây giờ, mấy chục năm sau, Mẹ lại dẫn con đi, để làm lại cuộc đời !

Tôi lấy cái thúng cột sau xe đạp, lại nhà làm bánh, mua khoảng vài chục cái bánh đủ loại khác nhau. Người làm bánh là người thân quen, cho lấy bánh trước, bán xong trả tiền sau.

Tôi dắt bộ xe đạp vào khu cư xá, Mẹ lẽo đẽo theo sau rao hàng:

Ai bánh chưng… bánh nếp đây..

Lâu lâu có người từ trong nhà đi ra gọi mua bánh. Mẹ bảo nhà này của ông Đại Tá Nhảy Dù, nhà kia của ông Trung Tá Tổng Tham Mưu..Đến nhà nào, Mẹ cũng giới thiệu.

Đây là con trai tôi, SQ Thiết Giáp mới đi “cải tạo” về, xin bà mua nhiều nhiều cho cháu.

Có bà nhìn tôi vẻ ái ngại:

-Lấy cho Chị mỗi thứ một cái đi. Thế cậu bị nhốt ở đâu vậy, về lâu chưa?. Ông nhà tôi ở tận ngoài Bắc, chẳng biết khi nào nó mới thả ra như cậu.

-Em bị nhốt ở Gia Trung ngoài Pleiku, mới về được mấy ngày.

-Mới về có mấy ngày sao không nghỉ ngơi đã, lại đi bán hàng ngay.

Câu nói chân thành của bà, nhưng vô tình như mũi dao nhọn đâm thấu vào tim gan của tôi. Tôi im lặng không trả lời, cúi xuống thúng, lựa từng chiếc bánh theo ý bà, dấu đi những giọt nước mắt đang lăn trên má.

Càng lúc, tiếng rao của Mẹ càng khản đi như chỉ còn giọng mũi. Tôi bảo :

Mẹ để con rao hàng cho, mẹ mệt rồi.

Tôi lấy hơi…-Ai bánh chưng bánh giò đây…

Tiếng rao hình như luẩn quẩn đâu đó trong cổ họng, không phát lớn ra ngoài miệng đươc.

-Con phải rao lớn lên, người trong nhà mới nghe thấy chứ.

Tôi cố gắng lấy hơi nhiều hơn lần trước, đưa tay lau vội những giọt nước mắt đang lăn trên má.

Bánh chưng, bánh  giò, bánh nếp nóng hổi đây….

Nhưng có lẽ chính vì niềm  xúc cảm đang dâng trào, đã chận âm thanh lời rao của tôi lại ngay trong cổ họng, Mẹ lại phải tiếp tục rao hàng cho đến khi đêm đã khuya, mà cũng chỉ bánđược già phân nửa bánh. Mẹ thẫn thờ nhìn lên bầu trời không một vì sao.

-Thôi về con ạ, khuya rồi, người ta đi ngủ cả, có ai mà thức mua bánh nữa đâu.

Mẹ đưa tay vào thúng bánh xoa nhè nhẹ rồi nói:

-Còn lại mấy cái để mai ăn, khỏi phải nấu cơm.

Tôi theo Mẹ đi bán được ít ngày, thấy tội nghiệp Mẹ quá. Có đời thưở nào, con bán mà Mẹ phải vất vả theo sau để rao hàng đâu. Mấy lần nói Mẹ ở nhà, nhưng Mẹ cứ bảo”

Mẹ quen rồi, đâu có mệt mỏi gì đâu. Khi nào con quen hết khách của Mẹ ở đây, thì Mẹ đi bán chỗ khác.

Không thể chịu đựng mãi được hình ảnh một người mẹ già nua, ốm yếu, mà cứ phải lặn lội đêm khuya theo con để kiếm từng đồng lẻ. Cuối củng tôi gạt nước mắt nói với Mẹ:

-Con không đi bán bánh nữa đâu, để con kiếm việc khác làm…Mẹ cực quá mà con chẳng giúp gì được, lại làm Mẹ khổ thêm.

Mẹ yên lặng không nói. Chắc Mẹ tôi cũng đang buồn lắm khi nghĩ đến hoàn cảnh khó khăn của gia đình và của chính bản thân đứa con thân yêu lúc này.

Thế nhưng nỗi bất hạnh không ngừng lại ở đó, lại thêm một lần nữa ập đổ xuống gia đình tôi. Chỉ vài tháng ngắn ngủi sau khi tôi về, Mẹ đã vĩnh viễn ra đi, sau khi bị đứt mạch máu  não. Mẹ ra đi ngay trong vòng tay ôm của tôi, khi đưa Mẹ từ nhà thương Chợ Rẫy trở về nhà lúc 1 giờ đêm.

Chắc Mẹ vẫn chờ đợi ngày tôi về, để nhìn thấy mặt con lần cuối, hầu ra đi được thanh thản. Nhưng Mẹ ơi, đứa con từ ngục tù CS trở về với hai bàn tay trằng, một tâm hồn tan nát và một tương lại mịt mù trước mắt, làm sao Mẹ có thể an giấc ngàn thu được.

Sau ngày đám tang Mẹ, tôi muốn buông xuôi tất cả, mặc cho dòng đời đẩy đưa. Nhưng vì sự sinh tồn của gia đình, của vợ con, tôi phải đứng thẳng người lên, chập chững bước đi từ đầu.

  1. ÔNG RÂU SOLEX.

velosolexNhớ lại ngày tôi và Bùi Thám đi bán thuốc lá trước khi vào tù, tôi đạp xe lang thang trên các đường phố SG tìm cách sinh nhai. Chợ trời bây giờ phát triển hơn cả ngày SG mới mất. Đâuđâu cũng có, bán buôn đủ thứ trên đời. Nhiều món hàng, tôi nghĩ, không bằng những thứ vất lung tung trong các góc kẹt nhà tôi, tại sao mình không đem những thứ đó ra bán, biết đâu cũng có người cần thì sao? Thế là tôi quyết định vào nghề. Gom góp tất cả những thứ vặt vãnh trong nhà, từ đồ chơi sứt tai gẫy gọng của con, đến những vỏ chai nước hoa đã dùng hết của vợ. Từ những đồ xe đạp đến xe gắn máy ngày xưa đã rỉ sét….tôi gom lại thành một túi nylon lớn cột sau chiếc xe đạp sẵn sàng. Chọn ngày lành tháng tốt để khai trương….

Khấn vái trước di ảnh Bố Mẹ cầu xin “mua mau bán đắt” xong, tôi lầm lũi đạp xe lên tận Quận 5, đường Phạm Hữu Chí (phải thật xa nhà để người quen không biết mình đi “bán chợ trời”). Nơi đây đã có sẵn nhiều người bán “lạc soong”. Tôi chọn một chỗ bên đường chưa có ai “xí” chỗ, trải tấm nhựa ra, đổ hết hàng hóa lên tấm nhựa, ung dung rút một điếu thuốc hút lấy cảm hứng ngày đầu tiên ra quân và chờ đợi…Không cần chờ lâu, điếu thuốc chưa hết một nửa, những tay bán bên cạnh và gần đó ào lại chỗ tôi như cơn sóng thần, giành giật nhau những món hàng của tôi và hỏi giá, hỏi giá. Tôi quýnh quáng như gà mắc đẻ, cũng chẳng biết giá cả mỗi món hàng là bao nhiêu trên thị trường. Tôi phang đại giá…Có người nghe xong giá tôi đưa ra, vội vàng rút tiền trả ngay không kỳ kèo. Có người bĩu môi, vất lại món hàng xuống tấm nhựa rồi đứng lên. Tôi nghĩ, hàng của nhà không cần đến, thôi thì bao nhiêu cũng được, miễn là có người chịu mua.

Tên bên cạnh chỗ tôi ngồi, mua của tôi một bộ đĩa và bàn đạp xe đạp ngày xưa. Liếc nhìn thấy hắn ta thật tâm đắc với món hàng vừa mua, lấy khăn ra lau chùi, chỉ một thoáng ngắn ngủi, nước xi bóng loáng của món hàng lộ ra. Trịnh trọng đặt xuống giữa tấm nhựa của hắn, huýt gió…vài phút sau, một người Hoa bán gần đó chạy lại cầm bộ bàn đạp lên, ngắm nghía và hỏi giá. Thật không ngờ, tên bên cạnh “hét” giá gấp 10 lần tôi vừa bán cho hắn! Khách mua kỳ kèo bớt đôi chút cho có lệ và rút tiền “pay off” ngay với vẻ hí hửng như vừa tìm được món hàng “Trúng mánh”. Không rõ người khách sau này đem về chỗ mình “hét” giá gấp bao nhiêu lần giá tôi bán ra…Đúng là  “mua đầu chợ, bán cuối chợ”.

Cuối cùng thì ngày đầu ra quân, “quân ta toàn thắng” chỉ còn sót lại mấy món đồ sứt mẻ làkhông ai rinh đi. Dĩ nhiên toàn thắng chỉ vì đây là hàng, “chà đồ nhôm”, không vốn. Tiền đầy túi. Tôi quyết định “closed” ngày đầu khi nắng vẫn còn trên đầu, với niềm hân hoan vôhạn. Trên đường đạp xe về, ghé ngang quán cháo lòng nổi tiếng khu Đại Học Quân Y cạnh nhà thờ Đồng Tiến, “chơi” một tô cháo huyết thật “hoành tráng”, ăn với lòng heo “khìa” (phá lấu) cuốn bánh tráng phơi sương đúng kiểu Trảng Bàng, thêm một chai bia vàkhông quên “togo” cho vợ và con đang chờ kết quả ngày đầu ra quân.

Sau vài lần ra quân, đồ đạc lỉnh kỉnh trong nhà cũng cạn kiệt, tôi bắt đầu phải bương trải đi tìm nguồn hàng về bán. Mỗi sáng phải đạp xe tuốt từ Quận 10 lên Phú Nhuận, Bà Chiểu thu gom hàng từ những kẻ bán “lạc soong” giống như mình. Món nào ưng thì trả giá mua về, chùi rửa sạch sẽ, bày ra bán. Gía cả không nhất định, cứ có lời là bán. Lâu dần tôi biết được giá thị trường của từng món hàng.

Càng ngày chợ trời đường Phạm Hữu Chí (PHC) Quận 5/SG (song song với chợ Tân Thành chuyên bán sỉ phụ tùng xe còn mới) càng đông đúc, đa số người bán gốc Hoa. Nơi đâyphần lớn các bạn hàng đều bán các mặt hàng về phụ tùng cũ  xe gắn máy và xe đạp.

Dù là bán dưới đất coi như bất hợp pháp, nhưng hàng ngày vẫn có một bà thuộc ban thuế vụ  của Phường cầm cuốn biên lai đi thu tiền chỗ! gọi là thuế “Hoa chi”. Nhiều khi bà ta vừa thu thuế xong, nghe tiếng la to từ đầu đường “công an đến” thế là mọi người mau chóng túm 4 góc tấm nylon vác lên vai chạy trốn. Ai chạy không thoát thì bị bắt về Phường, tịch thu hàng hóa, đóng tiền phạt. Công an, Phường Đội đi, lại tụ tập về, ai chỗ nào ngồi nguyên chỗ đó. Mỹ gọi Chợ trời là Flea market (chợ chấy rận, chợ ruồi) là thế đó, có kẻ đuổi thì chạy trốn đi chỗ khác, yên ổn lại “bu” về chốn cũ.

Những người buôn bán tại đây, vì miếng cơm manh áo, dù có bị đuổi bao nhiêu lần, chợ “chồm hổm” này vẫn cứ họp hàng ngày. Lâu ngày đuổi không nổi, Phường quyết định thành lập chợ có sạp bằng gỗ để bán hầu dễ thu thuế. Người nào đã từng ngồi dưới đất bán ở đây trước kia, được ưu tiên lên sạp ngay chỗ mình ngồi, với lệ phí là 250 đồng/sạp. Tôi thì bán ngày nào ănngày đó, mỗi ngày hên lắm cũng chỉ đủ để mua vài ký gạo cho vợ con, tiền đâu có sẵn 250đồng mà lên sạp. Tôi định bỏ vì không có tiền đóng chỗ. May thay có thằng cháu con bà Cô, tốt nghiệp cử nhân Luật, làm thuế vụ Quận 5 từ trước 1975, được lưu dụng làm tiếp, hắn nói:

Bọn người Hoa dám chi cả ngàn mấy đồng để có sạp, Cậu bỏ uống lắm, cứ ghi tên đi, cháu đưa tiền cho Cậu đóng để hợp lệ, sau đó cháu sẽ có cách lấy lại.

Thật như là một phép lạ đối với tôi. Thế là tôi cũng hiên ngang bày hàng lên sạp như các “sì thẩu” đại gia về “lạc soong” Chợ Lớn khác.

Nguồn hàng cung cấp cho chợ trời này là những mặt hàng trôi nổi. Do người dân dư thừa không dùng đến, hoặc cần tiền đem ra bán cũng có, mà do bọn ăn cắp xe tháo phụ tùng ra bán cho các sạp càng nhiều hơn. Là một SQ “cải tạo” còn đang bị quản chế, như “chim phải ná” tôi không dám rớ đến những món hàng đen tối, dù giá mua rất hời, nên chỉ cón biết quanh quẩn với những món hàng tự đi thu gom từ các chợ trời khác đem về bán lại, do đó hàng hóa ngày càng khan hiếm, mà thuế thì càng ngày càng đội lên. Tôi quyết định cho một người Hoa share sạp với mình. Hắn đề nghị sẽ bày 2/3 sạp hàng, tôi 1/3, (mỗi sạp hàng dài 2.5 mét, rộng 1.5 mét)mọi chi phí thuế má…hắn chịu hết. OK quá đi chứ phải không?.

A Bí, tên người bán chung với tôi, “chuyên trị” về phụ tùng xe Honda. Chẳng hiểu nguồn hàng từ đâu mà hắn có nhiều vô cùng, chứa nguyên cả một nửa căn nhà của hắn. Nhiều món hàng “xịn” chất lượng tốt của xe Honda 67, xe Cub bằng cả gia tài của tôi lúc đó !

Mỗi buổi chiều, các xe “ba gác” thu gom sắt vụn từ các ngõ ngách trong thành phố đổ về đây.Người bán trên các sạp túa ra tranh nhau mua những món hàng phù hợp với nghề của mình. Một hôm,trên chiếc xe ba gác, sau khi mọi người đã mua hết hàng, chỉ còn trơ lại cái đầu máy xe Velo Solex đã rỉ sét, không ai đụng đến vì là loại “hàng ngậm”. Tôi đến nhìn ngó một lúc, thấy thích thích, gần gũi, rồi trả giá bằng giá cân sắt vụn, như một cục sắt vô dụng. Người chủ xe ba gác đồng ý bán. Tôi xách cái đầu máy về sạp mày mò tháo rời ra từng bộ phận. Vì trước 1975 khi còn hoc tại Chu Văn An tôi cũng có một chiếc Velo Solex để đi học nên cũng biết đôi chút về loại máy này.

Sau 1975, xăng khan hiếm. đa số ai có xe lọai này đều tháo đầu máy ra để ở nhà và đạp như chiếc xe đạp. Từ đó, mỗi lần có những phụ tùng gì về xe Velo Solex là các bạn hàng đều gọi tôi đến mua. Vốn liếng không bao nhiêu, nên tôi buộc phải kinh doanh mặt hàng “Solex” đểkiếm chút cháo nuôi sống gia đình.

Dần dần, một số người bắt đầu tìm đến chiếc Velo Solex như một loại xe gắn máy nhưng chi phí ít hơn các loại xe khác, thế là xe Velo Solex tạm thời hồi sinh trở lại và tôi bất đắc dĩ trở thành người duy nhất tại chợ Phạm Hữu Chí (và cả Sài Gòn) lúc đó “chuyên trị” xe Velo Solex. Cái tên “Ông râu Solex” chết tên từ đó. (vì lúc đó tôi để râu trông rất bụi)

Xe Velo Solex đơn giản chỉ là chiếc xe đạp có gắn máy phía trước, do người Pháp phát minh và sản xuất từ thế kỷ 19. Đầu máy áp dụng nguyên tắc động cơ nổ “2 thì” chạy bằng xăng pha nhớt. Đầu máy được treo lên gidon bằng một cái móc đơn giản, khi đạp lấy trớn cho bánh xe quay, thả đầu máy xuống, giữa máy là một cục đá, cục đá chạm vào bánh xe làm quay trục máy và vô-lăng điện, phát sinh ra một dòng điện chạy lên đầu bougie phát lửa, gặp xăng làm máy khởi động, kéo chiếc xe đi, thật đơn gản. Khi không cần nổ máy, xe vẫn có thể di chuyển được bằng cách đạp như xe đạp bình thường.

Tôi may mắn mua được chiếc Velo Solex “trùm mền”. Chiếc xe đời sau cùng Z3800 thời Việt Nam Cộng Hòa, đèn vuông, cảng vuông (khung bảo vệ máy), bình xăng nhựa. Chủ nhân mới mua chạy được vài tháng rồi “trùm mền”. Nước sơn “zin” đen tuyền bóng loáng, một vài chỗ đã chạy “chân rết” vì thời gian. (chỉ nước sơn nguyên thủy của hãng sản xuất mới chạy chân rết sau một thời gian khoảng 10 năm. Những nước sơn nội hóa, dù để bao nhiêu năm cũng không thể chạy chân rết được). Với một ít vốn hiểu biết về máy nổ được học từ trường Thiết Giáp trước đây, tôi mang xe về tune-up lại, “căn” xăng, chỉnh lửa theo đúng quy trình vận hành của máy nổ.

Gần sạp hàng của tôi tại chợ Phạm Hữu Chí, có sạp của A Tỷ, người gốc Tiều Châu, “chuyên trị” xe Mobylette. Hắn có chiếc Mobylette “chiến” màu xanh,  đèn vuông, nòng nhôm vuông, mọi phụ tùng từ máy móc đến các phụ kiện bên ngoài đều là nguyên thuỷ từ hãng sản xuất. Như Velo Solex, muốn nổ máy, xe Mobylette cũng phải ngồi lên yên đạp lấy trớn một khoảng ngắn, rồ ga thì xe mới nổ máy. Nhưng với con “ngựa chiến” của A Tỷ, hắn chỉ cần dựng xe tại chỗ, lấy mấy ngón chân, đặt lên vô-lăng điện, ấn mạnh một cái cho vô-lăng quay là máy nổ liền !

A Tỷ rất “nổ” về “con ngựa chiến” của mình. Biết thế, tôi nói với hắn “xe của tao cũng đâu thua gì xe mày. Tao chỉ cần lắc nhẹ vô-lăng là máy nổ ngay…”  (hắn trẻ hơn tôi gần 10 tuổi). Thế là một cuộc đọ sức giữa cô nàng Velo Solex của “ông râu Solex” và chàng Mobylette của A Tỷ xảy ra trước một số bạn hàng lân cận làm nhân chứng.

Điều lệ: xe dựng tại chỗ, không dược đụng đến bàn đạp, hai người sẽ thay phiên nhau tự làm cho xe mình nổ máy tất cả 10 lần (như hai đội banh đá luân lưu 11 mét). Xong 10 lần khởi động, xe nào nổ ít lần hơn coi như thua, phải bao 10 người một chầu hủ tiếu mì đặc biệt, cà phê sữa đá và 2 gói 555.

A Tỷ “đá” trước. Với vẻ tự tin, hắn xắn ống quần cao lên, đặt mấy ngón chân của bàn chân phải vào vô lăng điện, một tay nắm tay gas, hắn đạp mạnh một cái, máy xe nổ liền….mọi người vỗ tay tán thưởng inh ỏi.

Đến phiên tôi, thật nhẹ nhàng, từ tốn, như đánh đòn cân não với thủ môn. Tôi mở nắp “cốp” nhựa che vô-lăng điện, đặt ngón tay cái của bàn tay trái vào cần air trên ghi-đông xe bóp nhẹ, tay phải xòe ra bấu 5 ngón tay vào các cánh gió của vô-lăng điện, lắc nhẹ một cái theo chiều kim đồng hồ rồi buông tay ra, “con chiến mã Velo” nổ xè xè,nhẹ nhàng, êm ái. Tiếng vỗ tay vàla ó tán thưởng lần này vang động hơn. Cả hai bên lần lượt thi thố tài năng tất cả 10 lần trên con ngựa chiến của mình. Kết quả, A Tỷ “missed” 2 lần không nổ máy, còn cô nàng Velo của tôi nổ đủ cả 10 lần…

Nếu nhà văn Nguyễn Tuân viết “Vang Bóng Một Thời” vào giữa thập niên 80, biết đâu tác phẩm của ông ta chẳng có câu chuyện về trận thư hùng giữa anh chàng Moylette của A Tỷ vàcô nàng Velo Solex của “ông Râu Solex”.!!!

Sài Gòn lúc đó ai có xe Solex, hoặc còn quan tâm đến xe Velo Solex thường tìm đến “Ông RâuSolex” chợ Phạm Hữu Chí để mua các phụ tùng linh về tân trang xe. Điều này cũng đem lại cho tôi một niềm vui nho nhỏ, quên đi những mệt nhọc giữa những căng thẳng trong vấn đề buôn bán tại đây.Ngay cả ca sĩ tài danh sau này trên Paris By Night, con của vũ sư Ánh Tuyết là Nguyễn Hưng, cũng tậu một chiếc Velo Solex do tôi tự tân rang và bán cho anh ta.

Dạo đó tại Sài Gòn, ngoài sập hàng của tôi, còn có 2 nơi sửa xe Solex rất nổi tiếng. Thứ nhất là tiệm sửa xe Chú Năm ở đường Trần Hoàng Quân và thứ hai là của anh Hùng  trên lề đường Trần Quang Khải, Đa Kao (ngó xéo qua bên kia đường là rạp chiếu bóng  Văn Hoa-ĐaKao).

Velo Solex nguyên thủy luôn luôn sơn màu đen. Thời hoàng kim của Solex trước 1975, nhìn những nữ sinh mặc quần trắng, áo dài trằng chạy xe Velo, hai chân đặt lên chỗ để chân làm lộ rõ cặp đùi và khoảng hở của lưng quần, là cả một bức tranh nghệ thuật tuyệt vời nhất vềnét duyên dáng, nhưng cũng không kém phần “kích thích” của thân thể người thiếu nữ Việt Nam.

“Chợ trời”, cái tên thật gần gũi với mọi người dân sống trong thành phố, đặc biệt là Sài Gòn sau  ngày 30-4-1975. Chợ trời thời “Xã Hội Chủ Nghĩa” quả thật là một cái chợ mang nhiều dấu ấn rất đặc biệt. Những người buôn bán, những người sống dựa vào “chợ trời” là một tập hợp của rất nhiều thành phần trong xã hội. Vì kế sinh nhai, những người đến đây buôn bánlàm ăn một cách chân chính, ngay thẳng rất nhiều, nhưng những loại người dựa vào chợtrời đề kiếm tiền một cách bất chính, lửa đảo cũng không phải là hiếm.

Ngay kế bên sạp hàng của tôi, có một anh bạn trẻ người Hoa, A Vòong. chuyên bán bạc đạn dùng trong các loại xe gắn máy. Sau một thời gian dài xử dụng, các bạc đạn trong xe đã mòncần thay thế. Các thợ máy hoặc khách hàng cần đến bạc đạn đều tìm đến anh ta. Dạo đó, bạc đạn đùm trước và sau xe Honda 67, Honda Dame là “hút hàng” nhất, do đó nếu có ai bán loại này, giá nào A Vòong cũng mua cho bằng được, bất kể tình trạng tốt hay xấu, miễn là cái chữ “Made in Japan” và số bạc đạn ( serial number) còn nhìn thấy. Nếu bạc đạn bị  lúc lắc, tức là đã quá mòn, cần phải tân trang. Chuyện nhỏ, chỉ cần môt cái búa, một cây đinh cỡ 5 phân, A Vòong đưa đầu đinh vào cái rế giữ bi, đóng nhẹ mỗi phía vài cái. Bảo đảm cái bạc đạn đó sẽ hết “rơ” ngay tức khắc. Thế nhưng nếu ráp vào xe, dưới sức nặng và lực quay của bánh xe, chỉ sau một thời gian ngắn bánh xe sẽ bị lắc và đảo.

Rất may cho tôi đã bất đắc dĩ chọn loại hàng hóa không ai muốn bỏ vốn để kinh doanh. Vì đây chỉ là một loại xe rẻ tiền, ít người xử dụng, nên không có ai sản xuất hàng nội địa, hàng giả. Hàng hóa lưu hành về Solex lúc đó hoàn toàn do Pháp chế tạo, dù còn mới hay đã cũ, giá cả cũng thuộc loại “bèo” nên tôi đã không vướng vào cái vòng quay “mánh mung” của chợ trời.

Những người sống nhờ vào chợ trời PHC là những hàng ăn, quán cafe, tủ thuốc lá (vợ chồng diễn viên hài Nguyễn Dương-Thu Tuyết dạo đó cũng có một tủ nhỏ bán thuốc là tại đầu chợ) và những người có nhà tại khu chợ cho mướn chỗ để cất giữ hàng hóa ban đêm. Dĩ nhiên không thể thiếu bọn ăn cắp, lừa đảo, luôn lờn vờn trong khu chợ.

Thời gian tôi kinh doanh tại đây (1982-1986) có 2 cặp thanh niên nam nữ chuyên lừa đảo. Mỗi cặp hùng cứ một nửa chợ. Chợ PHC là một dãy sạp dài một block đường, nằm về một phía của con đường mang cùng tên tại Q5/SG. Xe cộ vẫn lưu thông được. “Con mồi” của bọn lừa đảo thường là những nông dân chất phát, sau một vụ mùa thu hoach, đem một gói tiền đựng trong giỏ lác hay gài trong cạp quần, lên SG mua sắm hàng hóa (thường là phụ tùng xe đạp) về tân trang, hoặc tự lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc xe.

“Con mồi” vào chợ đầu nào, thì cặp lừa đảo đầu đó “tiếp đón”., không dành sân lấn đất theo đúng luật giang hồ. Sau một lúc theo dõi và biết được “con mồi” muốn mua những mặt hàng nào trên sạp, bọn “thợ săn” ra tay.

Thông thường, tên thanh niên xách một giỏ lác trong đựng một số phụ tùng xe đạp Made in Cholon, nhưng được đóng “mác” Made in Japan! còn mới tinh, nhưng chúng bôi một chút dầu mỡ lên làm ra vẻ đã xài qua (second hand) nhưng chất lượng còn 99%, gồm: Bộ đùm trước và sau, bộ chén cổ, bộ giò dĩa, dây xên và cái “líp”.Người đàn bà sồn sồn trong bọn chúng đi theo trả giá, tên thanh niên từ chối không bán, ca bài con cá và đề cao những món hàng của mình giá rất hời so với hàng trên sạp, sau đó bỏ đi. Lời đối thoại của bọn chúng cố nói lớn, đủ để “con mồi” nghe được. Tưởng mình may mắn gặp người cần tiền đi bán, bác dân quê “tự nguyện” tìm đến bọn chúng để trả giá mua, nếu không, bọn chúng sẽ đi theo phỉnh gạt. Dĩ nhiên sau khi “con mồi” ăn hàng  xong là chúng lỉnh mất rất nhanh. Còn “bác nông dân may mắn” cảm thấy mãn nguyện vì đã mua được hàng tốt mà giá lại rất rẻ, không uổng công lặn lội từ tuốt “miệt vườn” Long Xuyên, Rạch Gía. Có biết đâu rằng, nếu ông ta bước sang con đường Tân Thành bên cạnh, mua những món hàng “y chang” giá chỉ bằng 1/4.

Mọi hành động lừa đảo của bọn chúng đều diễn ra ngay trước mắt những người bán trên sạp, nhưng vì nồi cơm của gia đình, mọi người đều phải im re. Cả một đám đầu trâu mặt ngựa “bảo kê” cho bọn ra măt lừa đảo, đang ngồi trong các quán cafe tại chợ, sẵn sàng xuống tay với những ai phản đối hoặc tố cáo những hành động ác đức của bọn chúng.

Ngoài bọn lừa đảo kể trên, còn có những tên chuyên ăn cắp vặt luôn lảng vảng trong chợ. Từ hàng hóa của khách hàng cột sau xe, đến nắp xăng, nắp “cốp”, tiền bạc trong túi…nghĩa là tất cả những gì mà chúng có thể “thó” (lấy cắp) được.

Nắp xăng xe Honda 67 là mắc nhất thời đó so với các loại nắp xăng xe khác, lại là loại “hớ hênh” dễ mất nhất. Chỉ cần khách lơ là trong tích tắc là nắp xăng đã nằm trong tay bọn ăn trộm rồi. Với loại xe Honda Dame, Cup, phải lật yên ngồi lên mới mở được nắp xăng. Chuyện nhỏ.

Mua hàng tại đây, khách vẫn ngồi trên xe ngay trước sạp. “Thợ săn” luôn theo sát “con mồi”  chờ thời cơ. Khi khách nhổm đít lên trong một phút ngắn ngủi, nghiêng người về phía sạp và với tay ra xa để lấy món hàng là bọn chúng ra tay. Một tay nâng yên xe lên vừa đủ để bàn tay kia thò vào xoáy nhẹ là cái nắp xăng dã ngoan ngoãn nằm trong tay bọn chúng. Hạ nhẹ nhàng yên xe xuống, thong thả bước về phía trước như mọi người khách bình thường. Chỉ đến khi hết xăng mới phát giác mất…Ra chợ, cái nắp xăng thân yêu của mình đang nằm bình yên trên sạp đợi chủ nhân móc tiền trả rước về vị trí cũ…

Mặc dầu buôn bán tại đây đã phải khai lý lịch “trích ngang” “trích dọc” đủ kiểu, đóng tiền chỗ, tiền thuế hàng tháng, nhưng bọn VC vẫn trắng trợn ăn cướp của người buôn bán như thường. Buổi chiều, sau khi về nhà, đa số các sạp hàng đều bỏ hàng hóa của mình vào những thùng hoặc cần-xế lớn, đem ra những nhà dân ngay phía sau sạp để gởi qua đêm. Thế nhưng có đêm, bọn công an Phường, Quận, Dân phòng, Quản Lý Thị Trường…bao vây kín con đường PHC rồi đem xe lại hốt tất cả hàng hóa của người bán gởi trong các nhà dân. Sáng ra khi bạn hàng lên chợ, chỉ nhận được tờ giấy thông báo: Ai thắc mắc khiếu nại thì đem hóa đơn mua hàng lên Quận lãnh về! Mua hàng cũ trôi nổi từ khắp nơi, làm gì có hóa đơn để chứng minh. Đành chịu mất trắng cho bọn ăn cướp. Vài tháng sau, lại thấy bọn công an, Quản Lý Thị Trường…cho người manh mối ra bán lại cho các sạp hàng…chính những mónhàng của mình đã bị tịch thu trước đây.

Nói chuyện “chợ trời XHCN Việt Nam” thì bất tận,  xin hẹn dịp khác sẽ nói tiếp…

  1. CỬA HÀNG TỔNG HỢP QUẬN…

Thế nhưng, cũng như cái chết tức tưởi của hãng xe Puch Đặng Đình Đáng, của Mobylette, Solex Pháp Quốc. của Goebel máy Sachs Đức Quốc, của Ducati Ý Đại Lợi trước cơn sóng thần “Tsunami xe Nhật Bản” tràn vào Việt Nam trước năm 1975. Việt Nam thập niên 80 cũng bắt đầu đón nhận một cơn sóng thần khác, đó là những chiếc Honda Cub đời 78-79-80-81-82…“nghĩa địa” đưa lậu từ Kampuchia, Thái Lan vào. Do đó, sự hồi sinh của những tên tuổi Mobylette, Goebel, Solex…cũng chỉ có tính cách giai đoạn tạm thời lúc “gạo châu củi quế”.

Do đó, sau 5 năm “mặn nồng” với nàng Velo Solex, tôi quyết định từ bỏ cái tên “ông râu Solex”, theo người bạn vào cửa hàng Tổng Hợp Quận…chuyển sang bán phụ tùng mới xe Honda Cub các loại. Chiếc Solex “ăn nói” ngày trước không còn ảnh hưởng đến công việcnữa, cũng như cần thêm vốn để mua hàng, tôi bán lại cho một tay chơi xe Solex, chủ nhân một cửa hàng chuyên bán và cho thuê đồ cưới rất lớn tại đường Phan Đình Phùng, để anh ta chưng trong cửa tiệm, với giá 3.5 chỉ vàng. Một cái giá vô địch dành cho xe Solex thời đó.

Mới đây tháng 3/2015, trên ebay có rao bán giá cố định (không đấu giá) một chiếc Velo Solex tại Việt Nam là $1,000 USD (khoảng hơn nửa cây vàng theo thời giá hiện nay). Theo như trong hình quảng cáo, với con mắt nhà nghề của “ông râu Solex”, chiếc xe thật “cải lương”, chắp váđời này đời nọ lung tung, không xứng đáng để gọi là “collectable” được.Tuy nhiên nhìn hình ảnh chiếc xe, lòng tôi cũng thấy hồi hồi xúc động, nhớ về một khoảng đời đã qua với rất nhiều kỷ niệm vui buồn.

Cửa hàng Tổng Hợp Quân…nguyên là cơ sở kinh doanh của một tư thương trước 1975. Sau khi bị bọn VC cướp qua cái gọi là “đánh tư sản mại bản” thì chủ nhân bị bỏ tù, hàng hóa chúng mang đi hết, cửa hàng bỏ trống một thời gian dài. Sau này tuy mang danh là cửa hàng của nhà nước, nhưng thực chất là chúng cho tư nhân vào mướn để buôn bán, vừa lấy tiền thuê chỗ, vừa lấy được thuế.

Thời gian mới ở tù về, bọn công an Phường, tên công an khu vực,  cứ hối thúc tôi phải đem gia đình đi vùng Kinh tế mới. Tôi thoái thác mãi. Cũng may, có ngưới Chú vợ, ông lập ra cái Hợp Tác Xã “Mây-Tre-Lá” thực ra chỉ là một hình thức để con cháu và người thân của ông “núp bóng” hầu có lý do để trụ lại ở Sài Gòn, do đó tôi phải chạy đến ông xin cái giấy chứng nhận là “công nhân viên” của HTX do ông làm chủ. Chuyện tôi buôn bán phải dấu nhẹm, không khai báo cho Phường.Thế nhưng dù che dấu thế nào cũng đâu qua được đôi mắt cú vọ của tên công an khu vực (CAKV). Có buổi sáng ngủ chưa dậy, hắn gõ cửa, gãi đầu gãi tai, trơ trẽn nói:

-Chiều nay em phải đi đám cưới người bạn làm trên Quận, nhưng chưa có gì cho anh ta cả. Xe lại hết xăng nữa. Anh cho xin chút đỉnh.

Thế là mất toi một buổi chợ. Chuyện phải đổ xăng cho chiếc Honda 67 của hắn, chuyện phải dẫn hắn đi ăn trưa ăn chiều …để yên ổn làm ăn, được coi là bình thường như “chuyện trong nhà ngoài phố”.

Có vào các cửa hàng mang danh nhà nước để buôn bán, mới thấy tận mắt sự thối nát, hà hiếp dân chúng của bọn VC. Là những tư doanh, nên bọn có quyền có chức trong guồng máycai trị thường chèn ép chúng tôi. Lúc thì tên cửa hàng trưởng, lúc bọn Thuế vụ, khi thì bọn Quản lý thị trường. Rồi bọn trên Phường, trên Quận lâu lâu cũng đến “vòi vĩnh” cái này cái nọ.

Dần dần tôi cảm thấy chán ngán, không còn tha thiết làm ăn ở cái xứ sở XHCN đầy lọc lừa dối trá này nữa. Đúng thời điểm đó, chương trình H.O. rộ lên. Thời gian đầu nhiều người còn nghi ngờ, chưa làm đơn ngay. Tôi cũng nằm trong số những người chần chừ này. Nhưng đến khi những danh sách H.O 1- 2- 3 ra đi thật sự thì tôi mới lao vào làm đơn để ra đi.

Gĩa từ Velo Solex, giã từ cái tên “ông râu Solex”, giã từ những người bạn tại chợ  PHC, chợ Tân Thành, tại cửa hàng TH Quận…, và giã từ tất cả những thân thương của Sài Gòn, của Việt Nam, tôi dẫn vợ và 4 người con lên đường sang lập nghiệp tại Mỹ theo diện HO-9 tháng 12 năm 1991.

(Theo chính phủ Hoa Kỳ thì HO chỉ là mã số của hồ sơ nhưng đối với người Việt thì HO (đọc là “hát ô”) thường được hiểu là Humanitarian Operation cho dù đây không phải là tên chính thức)(Nguồn Wikipedia)

Cuộc đời tôi từ đây lại bắt đầu mở sang một chương mới mà chỉ những năm tháng trước đâycó nằm mơ cũng không thấy.

  1. FLEA MARKET/CHỢ TRỜI.

Chỉ hai ngày sau khi đặt chân đến Mỹ, thành phố Portland, Tiểu Bang Oregon, mùa đông đang có tuyết rơi bay bay thật thơ mộng và thích thú, thì người anh bà con (anh đến Mỹ trước tôikhoảng 1 năm theo diện HO-1) đến chở cả gia đình tôi gồm 6 người đi shopping tại GoodWill, một cửa hàng của cơ quan từ thiện chuyên bàn đồ cũ nổi tiếng.

Tại Portland ngày đó, chỉ có duy nhất một cửa hàng Goodwill nằm trong một warehouse lợp tôn, vách gỗ khu SE.(Thế nhưng hai chục năm sau tại Portland có đến 10 cửa hàng to lớn, khang trang. Có nghĩa là cứ 2 năm, Goodwill xây được một cửa hàng lớn – Điều này cho thấy “kinh doanh lòng nhân từ” của con người quả thật lời vô cùng.)

Tuy là hàng cũ nhưng tôi cũng cảm thấy choáng ngập như mới từ địa ngục (VN) mà lên Thiên Đàng (Mỹ). Hàng hóa phân ra từng loại chất đầy trong các thùng gỗ lớn không có nắp, tha hồ cho khách hàng lựa chọn. Trong cửa hàng có để sẵn những thùng carton (to bằng thùng nhựa màu vàng recycler) có dây cột để khách kéo đi, nếu nhét đầy quần áo, mũ nón, giày dép, hàng vải…thì giá $2.50. Nếu fill-up thùng đó là hàng điện (như bàn ủi, quạt máy, sấy tóc…) thì cũng chỉ có $5.00. Đối với tôi lúc đó Goodwill thật là một Thiên Đường dưới trần thế, đặc biệt cho những dân mới nhập cư theo diện tỵ nạn.

Bốn đứa con thi nhau vui sướng chạy nhảy từ nơi này qua nơi khác, nhặt, bốc từng nắm quần áo, mũ nón, giày dép. Hai thằng lớn 2 thùng, hai đứa bé chung một thùng, vợ một thùng và tôi cũng một thùng, vị chi gia đình 6 người kéo… 5 thùng. Ông anh trố mắt kinh ngạc và sững sờ, không phải vì ông không biết tâm lý người mới đến, nhưng ông lo sợ chiếc xe Honda nhỏ bé làm sao chở cho hết “bi nhiêu” hàng hóa kèm thêm 7 người. Cuối cùng hàng hóa cũng phải loại bỏ dần dần chỉ còn lại một thùng duy nhất, trong con mắt đầy nuối tiếc của mọi người.

Nguồn hàng vô cùng phong phú, giá lại thật “bèo” của Goodwill cứ ám ảnh tôi hoài, trằn trọc mãi suốt đêm không ngủ được. Cái máu “lạc soong” “chợ trời” ngày nào lại trỗi dậy trong tôi. “Đầu chợ” coi như tạm ổn, còn “cuối chợ” sẽ là đâu đây? Mới đến Mỹ có 2 ngày làm sao biết đường đi nước bước nơi xứ lạ mênh mông này. Thôi thì “hãy cứ tạm gác đó và chờ thời cơ vậy.”

Đúng 2 tháng sau ngày đến Mỹ, vì là dân tỵ nạn “chính tông low-income”, tôi xin được học bổng toàn phần tại Portland Community College (PCC)  để theo học về máy xe hơi. Mỗi buổi sáng chở vợ đi làm, chở 2 đứa lớn đến trường và chở 2 đứa nhỏ đi gởi, tôi đến trường dồi mài kinh sử để đạt được “Giấc mơ Mỹ”, biết đâu sau này lại trở thành một “ông râu Honda” hay một “ông râu Toyota”.Tối về lại vùi đầu vào “homework” và săn sóc con cái…

Đang thả hồn vào “Giấc mơ Mỹ “ thì anh tôi khuyên:

– Sửa xe ở đây cực lắm, Em ốm yếu như thế này mà mùa đông lạnh lẽo phải chui xuống gầm xe, dầu nhớt đầy người, sợ em chịu không nổi.

Lời khuyên của người anh và những bận bịu của gia đình, cộng với thời khóa biểu học không nhất định, trở ngại đến giờ giấc đón vợ con. Đặc biệt là nghĩ đến tương lai của những đứa con, nên sau một thời gian suy nghĩ, tôi nuối tiếc từ bỏ giấc mơ trở thành “Ông râu Toyota”  khi vừa hoàn tất Term đầu tiên của chương trình học.

Thời gian ngắn sau đó, tôi bắt đầu đi làm cho Hall Laboratory, một hãng thuốc Tây chuyên sản xuất thuốc bổ các loại với mức lương thấp nhất của Oregon là $4.75/giờ. Mỗi tuần làm 3 ngày, Thứ 5-6-7. Mỗi ngày đứng 12 tiếng liên tục. Nghỉ từ Chủ Nhật đến Thứ Tư.

Mới nghe đến hãng thuốc ai cũng nghĩ công việc chắc thật nhàn hạ, nhẹ nhàng. “Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ”. Mỗi ngày trung bình tôi phải khuân vác chừng 100 thùng thuốc viên các loại, mỗi thùng trung bình từ 15 pound đến 20 pound! (ngày nào hãng làm thuốc Vitamin C. thì khốn khổ, nặng vô cùng. Mỗi viên thuốc 1,000mg to bằng dầu ngón tay út, dân Việt muốn nuốt lọt họng phải bẻ làm 2 làm 3) từ pallette dưới đất đặt lên “rail” cao ngang bụng, đẩy vào trong line. Sau đó ôm thùng thuốc bước lên 3 nấc thang, mở thùng và đưa cao ngang vai đổ vào máy để máy chạy vào từng chai thuốc. Máy chạy ầm ầm suốt 24/24 tiếng, 2 ca mỗi ngày. Sản xuất thuốc bổ chỉ một hãng nhỏ như thế này mà đã làm liên tục không hết việc, nên dân Mỹ chắc uống thuốc bổ mỗi ngày do đó ai cũng to lớn đến “thảm hại”. Bụng xệ xuống chạm đầu gối, chân bước không nổi…

Lâu lâu hãng cho mỗi công nhân vài chai thuốc dư. Không biết làm gì. Đồ ăn ở Mỹ thì dư thừa cần đâu phải uống thuốc bổ như hồi còn ớ Việt Nam. Tôi tích lũy gởi về Việt Nam cho bạn bè, người thân. Nhưng tại quê nhà mỗi lần người thân đi lãnh rất nhiêu khê. Lãnh hàng xong tiếc tiền không dám uống, đem ra chợ trời bán thì bị con buôn ép giá, chê bai đủ điều, vì làthuốc bổ không bán chạy bằng thuốc chữa bệnh…Nghe được chuyện này, tôi chán nản không còn muốn gởi về VN nữa. Một số cho bạn bè, còn thì cứ gom góp để đó, biết đâu cũng cóngày cần đến thì sao. Hàng càng “ngậm” càng có giá mà.

Làm 3 ngày một tuần. Bốn ngày nghỉ, loanh quanh ở nhà mãi cũng chán, tôi chở 2 đứa con nhỏ chưa tới tuổi đến trường, lang thang trong các tiệm bán đồ cũ như Goddwill, Vincent de Paul, The Salvation Army…thả hồn về với tháng ngày “chợ trời” PHC năm xưa. Vẫn chưa tìm được “cuối chợ” là nơi nao!

Tình cờ trong một lần nói chuyện với một công nhân Mỹ đen cùng hãng, tôi hỏi hắn ta ở đây có Flea Market hay không?

– Lớn lắm, ngay gần nhà tôi trên khu North. Nhưng chỉ mở vào Thứ Bảy và Chủ Nhật mà thôi.

Sau khi hắn chỉ đường đi, tôi mừng như tìm được hũ vàng. Ngay Chủ Nhật tuần đó, tôi dẫn cả nhà, lần mò theo đường hắn chỉ, lái xe đến chợ trời nằm trên đường Chautauqua khu North thành phố Portland.

Gọi là “chợ trời” nhưng không phải ở ngoài trời như bên VN. Chợ ở đây nằm trong một căn nhà rất lớn. Nguyên thủy là một võ dài chuyên đấu đô vật (wrestling) cho thuê để làm chợ. Chung quanh võ đài là những dãy bàn, mỗi cái dài 6 feet, trên đó những người bán chất đầy hàng hóa. Mới có, cũ có, đủ mọi mặt hàng không thiếu thứ gì. Từ cây kim, cuộn chỉ đến súng đạn đủ kiểu. Từ TV, tủ lạnh đến vật dụng nhà bếp…Chất lượng thì “thượng vàng, hạ cám” đều có. May thay có vài người Việt Nam cũng đang buôn bán tại đây, thế là tôi lần mò đến làm quen.

Một vị cao niên, di tản đến Mỹ từ 1975, đã nghỉ hưu nhưng vẫn thích đến chợ bán đủ thứ hàng hóa linh tinh chỉ với mục đích tiêu sầu cho qua ngày, vì ông vẫn còn độc thân. Biết ý định của tôi, ông đã chỉ vẽ thật tỉ mỉ những thủ tục cần thiết khi buôn bán tại khu chợ này.

Sau ngày đó, coi như câu trả lời “cuối chợ” đã tìm dược. Ngoài giờ đi làm, tôi lao đến các cửa hàng bán đồ cũ, lùng xục các nhà bán garage-sale để thu gom hàng hóa đã vạch sẵn trong đầu.

Dạo đó tại Goodwill, cứ mỗi Thứ Ba hàng tuần lúc 10 giờ sáng, có cuộc bán đấu giá TV, đầu máy chiếu phim VCR, Cassette, Amplifier…. Hàng hóa được cửa hàng bày trên một kệ dài tam cấp. Cách xa 3 mét có một sợi dây chắn ngang không cho khách hàng đụng vào hàng hóa.Khách chỉ được đứng ngoài nhìn vào món hàng, tự thẩm định giá trị rồi trả giá. Dù là những mặt hàng cần đến điện để biết xem chất lượng tốt hay xấu, nhưng cửa hàng không cho cắm điện để thử trước. Coi như một hình thức “mua mù”. Tuy nhiên vì giá rất rẻ nên tôi cũng  bị cuốn hút vào các cuộc đấu giá này. TV ngày đó do người dân cho không (donation) cho Goodwill thường là loại vỏ ngoài bằng nhựa hay gỗ màu nâu, chỉ cần trả giá tối đa $10USD là mua được. Máy Cassetete giá $2.5 USD. Đầu máy chiếu phim VCR giá khoảng $5.00USD. Sau khi mua về, cắm điện thử, nếu tất cả đều tốt, lau chùi sạch sẽ đem TV ra chợ trời bán được từ $30.00 đến $40.00USD. Nếu là loại TV vỏ nhựa màu đen, đấu giá tối đa $15.00, bán lại từ $40.00 đến $50.00USD. Coi như “lấy công làm lời” cũng kiếm được chút cháo.

Đối vói công ty từ thiện The Salvation Army thì hình thức lại khác. Mỗi Thứ Tư hàng tuần, tôi chở hai đứa con nhỏ lên khu nhà kho của Salvation Army, gần bờ sông Willamette. Tại đây, cửa hàng có sẵn những chiếc xe dài khoảng 2m, x 1,5m, cao khoảng 1.5m có lưới sắt bao bọc chung quanh, cửa hàng dồn các mặt hàng cùng chủng loại vào đầy một xe đó. những người buôn bán như chúng tôi đến nhìn và thẩm định từng xe rồi mua với giá $10.USD một xe.

Ngày đó, tôi chuyên thu gom các mặt hàng điện như TV, VCR, Cassette, đồng hồ điện, bàn ủi, sấy tóc…Nên sau khi mua 1 hay 2 xe xong, 3 Bố con cùng nhau đẩy ra ngoài cửa. Lựa từng món còn tốt hoặc nghĩ có thể bán lại được, dồn lên xe. Những món hàng gẫy bể, thì trả lại cho cửa hàng. Cũng coi như là “mua mão” và “mua mù” vì ngay lúc đó không thể thử đượcđiện xem hàng hóa còn work hay không? Cũng chẳng sao, dưới con mắt của người đãtừng lăn lộn trên “chợ trời” tại VN, chỉ cần nhìn trong đống hàng vừa mua, có một mónhàng có thể bán được $10.USD hay hơn, là tôi yên tâm rồi, những thứ khác nếu còn tốt sẽ là tiền lời. Có nghĩa là dù “mua mù” nhưng ít nhất cũng lấy lại được vốn, không lỗ, nếu có chăng là lỗ cái công đi mà thôi. Đó cũng là nguyên tắc «survival» về “chợ trời” mà tôi đã họcđược tại VN. Nói đúng ra, đối với dân bán chợ trời lâu năm thì “mua mão” một đống hàng tốt xấu, với chỉ một giá duy nhất, bao giờ bán ra cũng có lời nhiều hơn là mua từng món hàng riêng biệt. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian bán hết mớ hàng đó. Dầu sao, dù bán mau hay chậm, ít nhất cũng trang trải được vài cái bill vặt vãnh hàng ngày.

Nằm tại góc đường SE Powell Blvd. và SE-27 là kho hàng của cơ quan từ thiện Công Giáo: Vincent de Paul. Ngoài cửa hàng chính, nơi đây còn có một Basement với đủ loại hàng hóa màcơ quan vửa xin về. Ở đây không có các cuộc bán dầu giá như Goodwill, những người “mua đi bán lại” như tôi muốn vào kho hàng này, phải xin một cái thẻ do công ty cấp phát riêng.

Có lọt vào kho hàng này mới cảm nhận được lòng bác ái cũng như sự giầu có của người dân Mỹ. Những món hàng hầu như còn rất tốt, nhiều cái chưa dùng đến. Những thứ cần đến điện để thử, đều được thử thoải mái. Gía cả cũng không mắc hơn bao nhiêu so với hàng đấu giá tại Goodwill. Ba Bố con tôi mặc sức lựa chọn, trả tiền rồi chất lên xe. Lần nào, bà người Mỹ ngồi tính tiền cũng lấy một món đồ chơi nho nhỏ cho 2 đứa con tôi, không tính tiền.

Hàng hóa mua về từ các cửa hàng đồ cũ, mang về nhà cần phải tân trang, lau chùi sạch sẽ, chỉnh sửa cho đạt chất lượng tốt nhất mới có thể bán lại được. Dĩ nhiên nếu may mắn cũng mua được những món hàng rất tốt, không tốn công sửa chữa. Không một chút hiểu biết gì về các loại TV, đầu máy VCR. Tôi nhờ người quen từ VN gởi sang những loại sách dạy về sửa chữa, tìm “pan” những loại máy móc này. Cứ thế, vừa đọc sách, vừa tự sửa chữa, lâu dần cũng có thêm kinh nghiệm. Những cái nào sửa không được, đánh dấu nhận dạng đặc biệt lên món hàng (ngăn ngừa mua lầm lại chính món đó), sau đó chở lên Goodwill cho lại cửa hàng.

Cũng rất may mắn, đến Mỹ được một tháng thì tôi lấy được cái bằng lái xe. Anh tôi giới thiệu mua lại chiếc Toyota Corona Wagon giá $600USD của một cựu Sĩ Quan cao cấp Hoàng Gia Lào đã qua đời. Vợ ông là một Social worker làm việc cho Hội Thánh Tin Lành, chuyên giúp đỡ người tỵ nạn mới đến Mỹ. Chiếc xe “trùm mền” kể từ ngày ông qua đời. Máy móc, dàn ngoài còn rất tốt và chưa đến 100,000mile. Vì là loại Wagon nên mỗi lần đi thu gom hàng, tôi tha hồ mà chất lên, kể cả những thứ lớn như TV, dàn loa.

“Đầu vào” đã sẵn sàng, tôi chuẩn bị để chiến đấu nơi “đầu ra”.

Chợ trời Chautauqua mở Thứ Bảy và Chủ Nhật mỗi tuần, 4 mùa trong năm. Vì phải đi làm Thứ Bảy, tôi chỉ bán được ngày Chủ Nhật mà thôi. Mỗi Thứ Ba phải gọi phone đến Ban Quản Lý chợ để ghi danh mướn bàn. Mỗi chiếc bàn dài 6 feet, giá $10. (nếu bán trong nhà) và  $5/bàn(nếu bán ngoài trời). Chở hàng đến chợ, mướn một chiếc hand-truck $2. để đẩy hàng hóa vào, bày biện lên bàn và chờ khách hàng đến mua.

Khách hàng nơi đây gồm đủ mọi chủng loại dân tộc. Mỹ trắng, Mỹ đen, Liên Xô, Đông Âu, Phi Châu, Nam Mỹ, Á Châu..

Hàng hóa của người bán cũng đủ loại “trên trời dưới đất” Cũ, mới, không thiếu một thứ gì. Cónhững cây súng của khối Cộng sản như AK-47, CKC, K54…còn mới tinh, bọc giấy dầu.Đạn dược, dao kiếm, mặt nạ quân đội…Phim chụp hình, phim truyện, quần áo, giầy dép, mũ nón, nồi niêu song chảo nhà bếp…đồ chơi, máy móc, ôi thôi đủ mọi thứ trên đời. Có lẽ chỉ thiếu cái máy bay B-52 và cái phi thuyền Apollo mà thôi.

Những quầy bán cũng mở đủ mọi lọai nhạc xập-xình chiêu dụ khách đến. Nhạc Mỹ, nhạc Tàu, nhạc Mexico…cộng với tiếng người cười nói um xùm, đúng là ồn ào, bát nháo như cái “chợ trời”. Gía cả các loại hàng hóa thì dĩ nhiên là rẻ hơn tại các shopping center và các cửa hàng bên ngoài rất nhiều rồi., không cần luận bàn đến.

Ngày đầu tiên ra quân. Sau khi bày biện hàng hóa lên bàn xong, tôi lấy miếng vải nhựa xanh phủ kín mít. Đi mua ly cafe, châm một đếu thuốc hút lấy tinh thần và cầm ly cafe rảo một vòng quanh chợ xem giá cả cùng loại với tôi họ bán bao nhiêu. Như lạc vào mê cung, mỗi người bán ghi một giá khác nhau. Cùng cái TV Sony vỏ đen 19inch, nơi này ghi $70, nơi khác ghi $50. Dĩ nhiên, hàng cũ thì vô giá, tùy theo chất lượng tốt xấu, tùy theo người bán và cũng tùy thuộc vào sở thích của người mua nữa. Không có một điều gì làm căn bản để định giá hàng cũ được.

Tôi quay về sạp và quyết định lấy Marker ghi giá theo ý mình, cái nào mua rẻ thì bán rẻ, cái nào phải mua cao thì ghi giá cao lên một chút. Vấn đề còn lại là talk, talk và talk… thế nào để khách hàng chịu rút tiền ra mua mà thôi. Có khách chịu mua là có tiền, cho dù phải bán dưới…nửa giá đã ghi cũng vẫn lời. Mua hàng “mão” mà. Thử hỏi mua $10 một xe gồm cả mấy chục món hàng (chỉ xứ sở giầu có như Mỹ quốc mới có giá này. Việt Nam CS thì mơ cũng không thấy) thì dù có bán $1 một món…vẫn còn lời chán.

Được ngồi bán như nhiều người khác, được hòa nhập vào cái không khí, dù bát nháo, ồnào của chợ trời” cũng đã là một niềm vui đối với tôi lúc đó rồi.

Dù là chợ trời ở Mỹ hay ở Việt Nam tất nhiên cũng có một số điểm tương đồng và khác biệt. Kẻ mua, người bán là một tập thể ô hợp, nhiều giai tầng trong xã hội. Nguồn hàng  bán cũng xuất phát từ nhiều nơi khác nhau. Tại Việt Nam, trong một xã hội nghèo đói, vì tranh sống, đôi lúc một số người đã phải gian dối, lừa đảo nhau. Tại Mỹ, trong gần 2 năm buôn bán tại đây, tôi đã không nhìn thấy một vụ lừa đảo nào diễn ra trước mắt các bạn hàng như tại Việt Nam. Là một xứ sở với luật pháp phân minh, những người buôn bán dùng thời gian, sức lực, và sự hiểu biết của chính mình để kiếm tiền phụ vào chi phí cho gia đình. Hàng hóa mua rồi, về nhà không ưng ý có thể trả lại, nên không hề có chuyện lừa đảo “hàng xấu nói tốt” được.

Qủa thật, chợ trời là một ngôi “trường đời” đầy thú vị đã dạy tôi nhiều điều trong cuộc sống.

Kể từ 1993, khi có thêm người tỵ nạn VN, Liên Xô và các nước Đông Âu cựu Cộng Sản, ồ ạt đến Mỹ theo diện tỵ nạn, bảo lãnh, thì hàng hóa cũng ngày càng khan hiếm và đắt đỏ hơn lên. Đã từng sống dưới chế độ Cộng Sản trên 60 năm, những người Liên Xô và Đông Âu là những khách hàng “bặm trợn” nhất tại các cửa hàng đồ cũ như Goodwill…Những cuộc bán đấu giá hàng điện tại Goodwill, bọn họ đẩy giá hàng lên cao ngất ngưởng, nhiều khi chỉ thua sút giá bán ngoài chợ trời vài đồng. Gía nào họ cũng tranh mua cho bằng được. Có hàng, họ không bán ngoài chợ trời như đa số những bạn hàng của tôi, mà họ đóng từng conex (container) gởi về Liên Xô, Tiệp Khắc… bán lại, giá cả cao hơn gấp bội ngoài chợ trời tại Mỹ. Từ đó,nguồn hàng thu mua đã khan hiếm, giá lại cao, tôi bắt đầu cảm thấy khó khăn nhiều nếu tiếp tục buôn bán.

Thế là sau gần 2 năm, tôi buộc phải từ bỏ giấc mộng bán chợ trời trên đất Mỹ. Hàng hóacòn lại kêu bạn bè, ai thích món nào cứ lấy, còn bao nhiêu trả về “đầu chợ” là những cơ quan từ thiện trong thành phố.

Trước khi đi Mỹ, tôi đã theo học mấy khóa về nhiếp ảnh tại Hội Nhiếp Ảnh Việt Nam đưòng Sương Nguyệt Ánh, vì thú đam mê chụp hình nghệ thuật. Nhân một lần nói chuyện về Nhiếp ảnh và Video với người anh “cột chèo” tại Tiểu Bang Oklahoma. Anh là môt Cameramen chuyên nghiệp cho hãng truyền hình ABC của Hoa Kỳ kề từ 1968 tại Việt Nam. Di tản sang Mỹ năm 1975, Anh tiếp tục làm cho “5 News Eyewitness” tại Oklahoma City. Nhân dịp hãng của anh thay đổi toàn bộ máy quay phim mới, hãng cho anh một cái cũ, thế là nghe chuyện, anh gởi sang tặng tôi.

Để có thể hiểu biết về Video, ngòai giờ làm tại hãng thuốc Tây, tôi ghi tên học lớp Video Production buổi tối tại Portland Community College (PCC). Những ngày đi làm, 7 giờ tối tan sở, tôi lái xe thẳng lên trường PCC tại Beaverton (Sylvania Campus) học từ 7:30PM đến 9:00PM. Xong khóa học, tôi bắt đầu chuyển sang làm dịch vụ quay phim chụp hình cho đến ngày hôm nay. Dĩ nhiên nghề nào cũng có niềm vui và nỗi buồn của nghề đó.

Không biết dòng đời này, rồi sẽ còn đưa tôi đến đâu nữa ?

Hai mươi bốn năm kể từ ngày đến Mỹ, tôi vẫn chưa một lần trở về Việt Nam để được cắm lên mộ Bố Mẹ một nén nhang báo hiếu. Mẹ ơi, tiếng rao hàng của Mẹ năm xưa như vẫn còng vang vọng trong tim, thấm trong từng giọt nước mắt của con mỗi khi nhớ đến Mẹ.

Bốn mươi năm kể từ ngày mất nước, biết bao là kỷ niệm, biết bao là nhớ! Nhớ cảnh, nhớ người.

Chỉ một lần gặp lại Đinh Văn Xuyên năm 1996 tại Sacramento, CA. Bây giờ thì Xuyên đã yên nghỉ nơi miền miên viễn, ngàn đời chia xa.

Bùi Thám, nhũng ngày cuối tháng 3/1975, trong cơn tuyệt vọng của người lính VNCH, đã đem những con chiến mã M48 thân yêu của mình, trầm mình xuống biển Đông tại Đà Nẵng, như một nhát gươm “harakiri” của chàng Võ Sĩ Đạo. Thám ở thành phố đầy nắng ấm Sacramento, tôi ở xứ sở của sương mù và mưa bay, Portland, Oregon, đôi lần nhớ đến nhau qua hơi men chếng choáng những buổi chiều tàn.

Nhưng còn Ích-Hải Quân, còn Bách-Không Quân, còn Hồng Khắc Bích, những chàng SQ đầy nam tính và dễ thương vô cùng, những người  cùng ra tù với tôi. Còn cô chủ quán café tại Quy Nhơn, vị ân nhân đã cho bọn tôi tá túc một đêm lỡ đường. Chăn gối cô cho mượn để bọn tôi nằm ngoài hàng hiên như vẫn còn hơi ấm tình người. Và còn bao nhiêu, bao nhiêu bạn bè,đồng đi, đồng tù khác nữa.

“Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?”.(VĐL)

Đoàn Kim Bảng

Portland, Oregon. Tháng 4/2015

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *