Khoảnh khắc của người lính biển

Tân khóa sinh SVSQ/HQ/K.21 đi bờ khi còn tạm trú trại Bạch Đằng II cuối năm 1969. (Ảnh của Lê Xuân Chiến)

Cuối tháng 9 năm 1969, tôi rời đại học Khoa Học gia nhập khóa 21 SQHQ. Tốt nghiệp Khóa 2 Đặc Biệt Hải Quân Nha Trang (K.2 ĐB/HQ/NT) và thụ huấn thêm Khóa 4 Thuyền Trưởng tại Cam Ranh. Thế là con nòng nọc bám trên cập cầu vai của tôi đứt đuôi CB để trở thành quan hai tàu thủy (HQ.Trung uý). Từ đó cứ theo chiến đĩnh rồi đến chiến hạm lênh đênh miết trên biển cho đến khi con tàu biến mất vào đêm 29 tháng 4 năm 1975. Tính ra thời gian làm lính biển của tôi chỉ được 6 năm 1 tháng, ít hơn thời gian tôi đi ‘bờ’ trong các trại tù cộng sản gần hai năm và đến nay chỉ bằng một phần năm thời gian sống trên đất Mỹ. Thật là khoảnh khắc ngắn ngũi của đời một lính thuỷ!

.

SVSQ'HQ/21 - Phạm Quốc Nam

SVSQ/HQ – Phạm Quốc Nam (1969)

Thời gian làm lính của tôi qúa ngắn ngũi phải không các bạn? Khi mà màu áo xanh và cập cầu vai còn nhẹ trơn, chưa đủ bạc màu gió biển và vẫn còn nhát sợ khi lái con tàu đối diện với những cơn cuồng nộ của biển khơi. May mà thuở ấy tôi không còn say sóng như lần đầu tiên bị say sóng rã nát người, tưởng như muốn chết đi khi cùng 14 thằng bạn mới ra trường xuống chiếc LST của Hải Quân Đại Hàn rời bến Saigon đi An Thới (Phú Quốc). Say sóng lần đầu tiên ấy cũng có phần vì nghe lời xúi dạy của mấy thằng đàn anh hải quân mắc dịch chỉ bảo rằng đừng ăn uống gì khi đi biển. Nghe lời họ, thế mới chết! Trong bụng có cái chi đâu mà ói. Ói hết mật vàng rồi đến mật xanh đắng ngét và muốn nhảy tùm xuống biển cho xong quách đời thủy thủ. Có lẽ cơ thể của mỗi người có khác nhau, tôi càng no bụng khi đi biển tôi càng thấy dễ chịu hơn. Không hiểu có sức mạnh nào mạnh hơn sóng biển nhỉ? Tôi có cảm tưởng bất cứ loại tàu bè nào cũng sẽ trở nên nhỏ bé và yếu đuối trước những cơn thịnh nộ của đại dương. Ai mà chẳng say sóng? Theo tôi, trách nhiệm đối với con tàu là liều thuốc hay trị say sóng.

Hồi tưởng lại sau 8 năm tù cộng sản, trở về gia đình với sức khoẻ tồi tệ bên trong cái thân gầy gò như con khỉ khô, tôi đã mạo hiểm nhận một chuyến vượt biên bằng đường biển. Chiếc ghe nhỏ chưa ra xa khỏi bờ biển Việt Nam, sóng biển không lớn lắm nhưng đủ làm cho tất cả thuyền nhân và thợ máy, tài công phụ say sóng, nằm lăn ra như chết. Một mình tôi với chặng  hải hành hai ngày ba đêm ôm lấy tay lái ghe, không ngơi nghĩ cho đến khi được tàu Hoa Kỳ vớt gần Indonesia, tôi vẫn tỉnh táo, không mệt mõi, kiệt sức. Phải chăng vì trách nhiệm với gần một trăm sinh mạng trong tay làm cho tôi có sức chịu đựng dẽo dai kỳ diệu đó.

Tuy đời lính của tôi ngắn ngũi như thế. Nhưng thời gian đó thật có gía trị cho một đời người. Nó cho tôi cái vinh quang được dâng cả tuổi trẻ phục vụ cho Tổ quốc và niềm tự hào của người lính thủy. Nó đã dạy cho tôi biết bao nhiêu điều trong cuộc sống, nó mang đến cho tôi thật nhiều bạn bè thân thương, nó cho tôi nhiều kỷ niệm khó quên, nó mang tôi đi đến nhiều vùng đất lạ của đầm lầy, con sông, cửa biển, hải đảo và tận đến những vùng biển xa xôi lạ lẫm của quê hương nước Việt mà tôi chưa bao giờ có dịp đi đến; nếu không nhờ cái khoảnh khắc làm lính thủy đó.

Nhưng cái khoảnh khắc đó cũng đã đưa tôi vào nhà tù của phe thắng cuộc sau 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc chiến

HQ611 tại trước BTL/HQ sáng 29/4/1975 (trong phim 'Last Days in VN'

HQ611 tại trước BTL/HQ sáng 29/4/1975 (trong phim ‘Last Days in VN’

kết thúc, kẻ thua cuộc đi tù, bị đói khát, bị hành hạ, bị khổ sai là chuyện thường của người tù. Cũng đáng đời cho tôi. Đã không sáng suốt lại còn nhẫn nhơ, không quyết định dứt khoát. Cái tội lớn nhất của tôi là đã rời bỏ nhiệm, trách nhiệm đang chỉ huy một con tàu. Chỉ trong một đêm, sáng hôm sau tất cả đều đổi thay, mất tất cả và tôi cũng như hàng trăm ngàn người lính VNCH trở thành những thằng tù của chế độ mới. Bởi vậy, tôi chấp nhận số phận của người thua cuộc, đi tù cộng sản, không rên la, không than oán. Nhưng tôi hận, hận những thằng tù bội phản đồng đội, làm tay sai cho kẻ thù. Tôi vẫn còn hận hai thằng tù làm trật tự viên trại Z30A (Chợ Ông Đồn – Long Khánh) có tên là thằng Muôn và thằng Lành. Một buổi xế chiều kia, chúng đã rình rập bắt tôi tại trận trên đường trở về phòng giam với nữa ký đường tán mà tôi lén lút gởi tiền nhờ anh em tù của toán xe be có dịp đi công tác ngoài trại mua dùm. Con tổ bà nó! Chúng cướp lấy nữa ký đường để ăn mà còn lôi tôi về phòng riêng thay phiên đánh đá hội đồng trước khi chúng giải tôi lên văn phòng của các tên cán bộ trại. Vành cạnh sắt bén từ chiến nhẫn đeo tay của tên Muôn còn để lại mí mắt phải cũa tôi một vết sẹo dài cho đến ngày nay.

* * *

Bước chân vào lính, tôi đã quyết định đúng khi tình nguyện gia nhập Hải quân. Dù là đời lính thủy chỉ trong khoảnh khắc, nhưng tôi rất trân trọng và cám ơn cái khoảnh khắc đó. Ngoài những gì đời lính đã cho và đã dạy, nó còn cho tôi cái quý báo nhất là vốn liếng biết lái tàu và đi biển. Cái vốn liếng đi biển như là những mắt xích của định mệnh, nó là cứu cánh làm biến đổi đời sống của tôi sau khi ra tù. Là điều kiện giúp tôi thoát khỏi chế độ cộng sản bằng đường biển. Hơn nữa tôi đã đưa được hàng trăm thuyền nhân cùng với gia đình vợ con tôi thoát khỏi địa ngục cộng sản với cuộc hải hành thật bình an.

Tôi cũng rất tự hào với bộ quân phục hải quân. Ngày nay thỉnh thoảng tôi trân trọng mang ra mặc trong những ngày lễ hội lớn. Mặc lấy bộ quân phục ngày xưa, mãi mai tôi không hề mặc cảm của đoàn quân thua trận. Màu áo mang mộng hải hồ. Tôi vẫn yêu thích mặc lấy nó vì tôi đã khôn lớn từ màu áo ấy. Nó đã cho tôi đủ thứ trong qúa khứ và chính nó đã biến đổi và mang đến cho tôi mọi sự tốt đẹp, hạnh phúc của ngày hôm nay. Sự thành đạt của con cái tôi có được cũng từ bộ quân phục đó. 

***

Khoảnh khắc thời quân ngũ ấy, ngoài thời gian trong những quân trường và hai tháng biệt phái cho Tác Chiến Điện Tử của Hoa Kỳ tại Hà Tiên, còn lại tuổi lính của tôi gắn liền với biển cả.

Tôi đã phục vụ tại các hải đảo và các đơn vị xa nhà (Saigon) như Duyên đoàn 41 Hòn Khoai (Poulo Obi), Duyên đoàn 42 (An Thới – Phú Quốc), Hải đội 5 Duyên Phòng, Hải đội 4 Duyên Phòng mà công tác hay di chuyển đều bằng đường biển trên các chiến đĩnh. Rời Hải Đội 4 Duyên Phòng cuối năm 1974. Tôi bàn giao duyên tốc đĩnh PCF- HQ 3909 tại Hòn Tre Rạch Gía (Duyên đoàn 43) và trình diện tân đáo Tuần Duyên Hạm HQ.611 Trường Sa của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, sau một tuần đi phép.

Mặc dù tất cả các đơn vị tôi phục vụ là đơn vị tác chiến, nhưng vùng biển mà tôi đã tuần tiểu quen thuộc từ Bắc đảo

PCF - HQ.3909

PCF – HQ.3909

Phú Quốc, qua Hà Tiên, Rạch Giá xuống mũi Cà Mau và vòng lên ngoài khơi cửa Gành Hào chưa lần nào đụng địch trên biển. Ngoại trừ Hải Đội 5 Duyên Phòng, có hậu cứ tại Năm Căn, mà các PCF của hải đội như là tấm bia cho các toán săn tàu trong sông của Việt Cộng. Hầu hết các PCF của Hải Đội 5 đều bị trúng B40 của địch. Tuy nhiên, tôi là một trong vài ba thuyền trưởng khác có mệnh ‘không sát quân’, nên gần hai năm ở Hải Đội 5 Duyên Phòng, tàu của tôi chưa một lần nào bị địch quân phục kích. Trên biển với trận đánh quân xâm lược Trung Công ngày 19/1/1974 tại Hoàng Sa là trận hải chiến duy nhất trong hải sử của HQ/VNCH. Thành tích của hải quân VNCH săn bắt tàu bè của VC xâm nhập bờ biển miền Nam cũng rất đáng kể. Trách nhiệm của hải quân bảo vệ sông ngòi rất nặng nề với nhiều cuộc giao tranh ác liệt với địch quân. Đời lính thủy của tôi không có dịp được phục vụ các đơn vị trong sông. Chỉ có một lần toán tàu tuần của chúng tôi từ biển trở về hậu cứ Năm Căn, vừa qua khỏi cửa Bồ Đề, đúng lúc Việt Cộng khai hỏa phục kích toán PCF khác đang trên đường từ hậu cứ ra biển thay thế đoàn tàu của chúng tôi từ biển trở về hậu cứ. Chúng tôi đưa tàu đến yểm trợ PCF bạn. Đây là lần đầu tiên tôi có được cái cảm giác và chứng kiến cảnh giao tranh. Tiếng súng đạn, các đớm lửa khạt ra không ngừng từ các nòng súng lớn nhỏ trên các PCF, tiếng nổ tung của đạn phóng lựu, của súng cối 81 ly, cùng với những lằn đạn lửa kéo dài đan chéo nhau giửa màn đêm. Hỏa lực khiếp đảm của các PCF đã cày tung một vùng đất phía xa trên bờ sông, nơi toán săn tàu VC ẩn núp phục kích. Cuộc phản công chớp nhoáng của hai toán PCF dập nát họng súng của VC chấm dứt, tôi đưa con tàu ra khỏi màn khói dầy dặt mùi thuốc súng đang bao trùm cả một khúc sông với cảm giác kiêu hùng của một người lính thủy.

* * *

Mỗi đơn vị tôi được phục vụ đều cho tôi ít nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm vui có, buồn có, lãng tử có và bạc mệnh, nông nổi của một sĩ quan trẻ cũng không thiếu. Tôi còn nhớ hoài lời nói cao hứng của HQ Đại Tá Nguyễn văn Hớn trong một buổi tiệc của hải quân Oregon khi ông còn cư trú tại Vancouver, WA: “Hải quân còn cấp nhỏ như cấp uý mà không nông nổi, không quậy thì không phải hải quân”. Câu nói của Đại tá Hớn có đúng không các bạn? Với tôi thì đúng qúa đi thôi. Có một thời tôi quậy đến bến. Về gìa, đôi lúc ngẫm nghỉ lại mà thấy chán cho chính mình.

HQ. 611Trường Sa

HQ. 611Trường Sa

Tiếp nối những kỷ niệm bằng nhiều sự kiện của những ngày cuối cùng của tháng Tư Đen mà tôi có liên hệ và cơ hội chứng kiến đã để lại cho tôi những ký ức khó quên nhất. Đó là những sự kiện của lịch sử, của những biến động bên trong ngoài hải quân; Những kỷ niệm này có tính xác nhận như một nhân chứng về vai trò và việc làm của vài vị sĩ quan cao cấp của hải quân trong những ngày cuối của chiến tranh Việt Nam, được kể tuần tự theo thời gian như dưới đây:

– Câu chuyện HQ 611 bắn phi cơ A37 của giặc lái Nguyễn Thành Trung dội bom Dinh Độc Lập sáng sớm ngày 8/4/1975. Sau đó lại có lệnh ngưng tác xạ: “Ngưng bắn đi Nam. Mầy muốn đi tù hả…”. HQ Trung T á…X, Chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tư Lịnh Hải quân ra lệnh cho tôi.

– Câu chuyện lập danh sách “Thân nhân thủy thủ đoàn theo tàu ra Côn Sơn tránh pháo kích Saigon”HQ 611 chuyển vật dụng và gia dụng ra Vũng Tàu trước nhiều ngày 26/4/1975 , được đề cập đến như xác nhận kế hoạch của HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, cựu Tư Lịnh Hạm Đội mang hạm đội ra Côn Sơn để tái phối trí bộ chỉ huy hạm đội trên Côn Sơn và tiếp tục chiến đấu với Việt cộng là sự thật.

– Chiều tối ngày 26/4/1975, tôi tham dự buổi lễ bàn giao tư Lịnh Hạm Đội giửa HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn (cựu TL/HĐ) và HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê (tân TL/HĐ) trên lầu hai của bộ Tư Lịnh Hải Quân, mà bài viết của Đại tá Nguyễn Xuân Sơn đã thiếu mất sự kiện lịch sử này có liên hệ đến ông.

– Sáng 29/4/1975 nhận lệnh di tản. Trên đường trở về tàu, tôi gặp Võ Trường Xuân, sĩ quan trực của HQ 402. Chúng tôi lên kế hoạch đưa thủy thủ đoàn HQ 402 qua HQ 611 di tản.(Theo Xuân HQ 402 bất khiển dụng)

– Chiều 29/4/1975 tôi ký sự vụ lệnh cho tôi và hạ sĩ Tô Nhật Hà lái xe đưa tôi ra khỏi cổng Bộ tư Lệnh Hải quân về nhà thu xếp thân nhân xuống tàu……………….

Di tản chiều tối 39/4/1975 (Tư liệu của HQ. Phạm Kim)

Di tản chiều tối 39/4/1975 (Tư liệu của HQ. Phạm Kim)

– Sáng 30/4/1975, tôi có mặt thật sớm tại bến tàu. Trên sông Saigon, tàu bè, thương thuyền, chiến hạm vắng tanh. Trước Bộ Tư Lịnh Hải Quân băng qua kia đường đồ đạt, xe cộ, áo quần , giày dép, giấy tờ bừa bải như đóng rác lớn. HQ 611 cũng biến mất tại cầu A. Đang tần ngần trên bến tàu, chiếc PGM của người bạn thân (Báo bựa) cùng khóa đang đưa tàu cập cầu A. Tôi giúp bắt và cột dây cho chiếc hạm. Tôi trèo lên tàu gặp thằng bạn. Chiến hạm lấy nước xong, chuẩn bị tách bến. Tôi từ chối ra đi vì không đành lòng bỏ lại vợ con và người thân. Tôi trèo xuống và tháo dây cho chiến hạm tách bến. Đó là chiến hạm cuối cùng của HQ/VNCH ra đi vào sáng 30/4/1975. Tôi nhìn theo chiếc hạm khuất dần sau khúc quanh đằng xa, lòng buồn vô hạn. Lúc đó, tôi vẫn còn mặc bộ quân phục với khẩu súng colt 45 bên trong. Tôi không thấy sợ hãi khi kẻ thù đang tiến vào Saigon, nhưng tôi buồn và nghẹn ngào muốn khóc. Vì thoáng một cái, đời binh nghiệp của tôi tiêu tan, mất sạch: người lính biển không còn con tàu, không còn binh chủng và không còn đồng đội……….Nổi buồn nào hơn!

– Trở về nhà tận Bà Chiểu – Gia Định, tôi thấy nhiều anh em thủy thủ đoàn của HQ 611 tại phòng khách. Tôi hết sức ngạc nhiên tự hỏi tại sao họ không theo tàu di tản mà lại có mặt tại nhà tôi. Thắc mắc của tôi nhanh chóng được họ cho biết chiều tối 29/4/1975 rất đông quân nhân đủ mọi binh chủng trèo lên tàu và dùng vũ khí cưỡng bức HQ 611 ra đi. Nhưng không may cho họ, HQ 611 bị vô nước chìm trên đường di tản (Theo lời kể của thuỷ thủ đoàn HQ 611). Anh em thủy thủ đoàn lội sông vào bờ và đi bộ về tụ tập tại nhà tôi. Ít phút sau đó Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Thế là hết! Mộng hải hồ của chúng tôi cũng bị chặt đứt ngay đó. Tôi giải tán anh em thủy thủ và an ủi họ nhà ai nấy về. Nhìn họ ra về, tôi chìm trong nổi ân hận đã không trở về tàu tối 29/4/1975 để cùng với họ mang con tàu ra đi.

Nhân nói đến sự kiện này, tôi muốn đề cập đến câu hỏi mà tôi đã hỏi anh em thủy thủ đoàn của HQ 611 sáng 30/4/1975 tại nhà tôi : “Ai ra lệnh di tản?”. Anh em thủy thủ trả lời: “Đại Tá Đổ Kiễm”. Tiếp theo 40 năm sau, phim ‘Last Days In Vietnam’ của Rory Kenedy xuất hiện như một tài liệu mà trong đó có những đoạn nói đến vai trò của HQ Đại Tá Đỗ Kiểm trong sự kiện hạm đội của VNCH di tản. Chi tiết này ngược lại vài nguồn tin trong hải quân VNCH như muốn phủ nhận công lao của Đại Tá Kiểm? Cá nhân tôi phản đối những nguồn tin này. Lời của thủy thủ đoàn HQ 611 nói đến Đại tá Đỗ Kiểm với tôi và phim Last Days in Vietnam đã đủ nói lên công lao của Đại tá Đỗ Kiểm trong cuộc di tản của hạm đội VNCH. Một sự thật không thể phủ nhận!

– Cũng sau 39 năm, qua bài viết “Đời thủy thủ & Đêm giang hành lịch sử ” cho tôi được biết chiều tối 29/4/1975, HQ Trung Tá Trần Hương (K. 9/NT) tức Người Thủy Thủ Gìa, tác gỉa của bài viết đã yểm trợ đưa Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, đương kiêm Tư Lịnh HQ/VNCH lúc ấy cùng đoàn tuỳ tùng xuống HQ 611 đang nằm tại cầu A, trước Bộ Tư Lệnh Hải Quân để di tản. Rất tiếc! Tôi và nhiều thủy thủ không có mặt dưới tàu để đón và đưa ông ra khơi. Do đó, Tư Lịnh Chung Tấn Cang chuyển sang PGM – HQ 601 của Hạm trưởng Trần Minh Chánh (HT. T.M. Chánh [K.1 ĐB/HQ/NT] là con trai trưởng của cựu Tư lịnh Hải quân Trần Văn Chơn) đang nằm bên tả hạm HQ 611. Hạm trưởng Chánh đưa Tư lịnh Chung Tấn Cang ra tàu lớn và quay tàu về Saigon.

* * *

Sau 30/4/1975 tôi đi ‘bờ’ gần 8 năm qua nhiều trại tù khổ sai của cộng sản Việt Nam. Ra tù, tôi bôn ba trong giới vượt biên. Bốn lần thất bại vì bến bãi. Đến lần thứ năm được cựu HQ Thiếu tá Nguyễn Duy Khanh – K.12 (Tôi quen biết anh Khanh ngay những ngày đầu ở trại Bạch Đằng II Saigon khi gia nhập Khoá 21SQHQ năm 1969 và anh đang là tuỳ viên của Tư Lịnh HQ Trần Văn Chơn qua giới thiệu của ca sĩ Huyền Châu trong Ban Việt Nhi của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức), một đàn anh đáng kính và gắn bó với tôi trong suốt thời gian quân ngũ và sau này khi cả hai ra tù cho đến khi cùng có mặt trên đất Mỹ, đã giới thiệu tôi đến một tổ chức vượt biên để đãm nhận ‘đánh’ một chuyến đi với 89 thuyền nhân. Sau hai ngày ba đêm hải hành. Tàu chở gas LNG Aquarius của Hoa Kỳ vớt ghe chúng tôi gần Nam Dương. Sau 6 ngày đêm theo tàu chở gas LNG Aquarius đến Nhật Bản. Tháng 6 năm 1986, gia đình chúng tôi đến Hoa Kỳ ……….Cuộc sống mới bắt đầu….

HQ/ĐB. Phạm Quốc Nam

Các cựu Thuyền trưởng Hải Đội Duyên Phòng

Các cựu Thuyền trưởng Hải Đội Duyên Phòng

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *