Trung Tá Hồi Hưu Lục Quân Hoa Kỳ Lên Tiếng Về Bộ Phim Tài Liệu Chiến Tranh Việt Nam (The Vietnam War)

Chào ông J. Patrick Garland,

Đêm qua tôi và vợ tôi xem tập phim số 10 (Episode 10) của Ken Burns, một bộ phim tài liệu về Chiến Tranh Việt Nam (Vietnam War Documentary). Chúng tôi cảm thấy thật là đau đớn khi xem. Những cảnh tượng tàn phá đổ nát của miền Nam Việt Nam bởi một trong những chế độ Cộng sản tàn bạo nhất trên thế giới, vào thời đó, thật kinh khủng như chúng ta đã chứng kiến lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1975 trên đài truyền hình.

Năm 1975, vợ tôi và tôi quyết định rằng điều duy nhất chúng tôi có thể làm được là cung cấp nhà của chúng tôi cho người tỵ nạn Việt Nam, và vì vậy chúng tôi đã làm điều này. Lúc đó chúng tôi có bốn đứa con, và tôi là một giảng viên của ROTC tại trường Đại học Rhode Island. Chúng tôi sửa đổi ngôi nhà của mình để thích ứng với những gì chúng tôi nghĩ là sẽ phù hợp cho một gia đình người tỵ nạn Việt Nam. Tuy nhiên, vì chúng tôi sống ở tiểu bang Rhode Island nên nhiều người Việt Nam sợ mùa đông rất lạnh ở đây.

Vào mùa thu năm 1975, chúng tôi được thông báo rằng có một nhóm người tị nạn khó định cư: đó là những người đàn ông độc thân không nói được tiếng Anh, và chúng tôi được yêu cầu giúp đỡ một người. Chúng tôi đồng ý, và anh ấy được gởi đến ngay sau đó. Vài tháng sau, chúng tôi gặp một người đàn ông Việt Nam độc thân thứ hai mà người bảo trợ của anh vừa mới qua đời bất ngờ, để lại vợ và chín đứa con. Người đàn ông này cũng đã đến sống với chúng tôi. Tất cả những chuyện này khởi đầu một cuộc hành trình kéo dài hai năm với những người đàn ông Việt Nam sống trong nhà của chúng tôi…

Vào hầu hết các ngày chủ nhật, vợ tôi và tôi đã tổ chức một nhóm khoảng 6 đến 8 người đàn ông Việt Nam đến nhà bếp chúng tôi để họ nấu thức ăn cho chính họ và dành hàng giờ để nói chuyện với nhau và chia sẻ với vợ tôi những đau khổ quá sức tưởng tượng mà họ cảm nhận cho sự mất mát của gia đình và đất nước của họ. Họ chia sẻ những câu chuyện khủng khiếp này với vợ tôi; nhưng một khi có tôi bên cạnh họ không bao giờ khóc hoặc phàn nàn. Một người trong số họ cuối cùng đã kết hôn với em gái út của vợ tôi và đã trở thành một thân nhân của gia đình chúng tôi trong hơn 40 năm qua.

Sở dĩ tôi đang kể câu chuyện này là để giải thích sự kinh hoàng không ai dám coi thường mà chúng tôi cảm nhận khi nhìn thấy một quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới, Hoa Kỳ, đứng lùi lại và thản nhiên quan sát sự hủy diệt toàn diện của một đồng minh lâu năm mà chúng tôi đã thực hiện các cam kết bằng “máu”. Cho đến ngày hôm nay, chúng tôi cảm thấy rằng quốc gia chúng tôi đã hoàn toàn phản bội một dân tộc đã cam kết toàn bộ sự sống còn và tài sản của họ vào lời hứa của chúng tôi. Trong quan điểm của chúng tôi, sự thất bại đó là một vết nhơ bẩn của máu mà nó sẽ không thể dễ dàng được gột rửa, và nó sẽ không bao giờ nên để lại xảy ra lần nữa.

Với loạt phim của Ken Burns, sự thất vọng của tôi là ở chỗ nó đã bỏ sót – những gì không được kể, nhiều hơn là công việc của nó – những gì đã được nói..

Chuyện mở đầu của Trận Ấp Bắc chỉ nói về một mặt của câu chuyện, mặc dù có nhiều nguồn tin khác có thể được xem xét để có một cái nhìn khác. Cụ thể là chiến công của ông Lý Tòng Bá, một đại úy trẻ tuổi VNCH chỉ huy thiết đoàn thiết vận xa M-113. Tôi đã đọc chuyện và nghe ông Bá trực tiếp kể trận đánh.

Bản báo cáo về trận chiến đó của báo chí Mỹ, về “sự thất bại, thiếu khả năng, và hèn nhát của quân đội VNCH” là cái đinh chính đầu tiên đóng vào quan tài của Tổng thống Ngô Đình Diệm và là khởi đầu những năm dài nhạo báng quân lực và giới lãnh đạo VNCH của báo chí Hoa Kỳ. Phim tài liệu của Burns ủng hộ hầu như toàn diện quan điểm đó, mặc dù đã có lời tuyên bố khẳng định của người kể chuyện. Nói cách khác, chúng tôi đã nghe một “hồi trống” tràn ngập những lời tuyên dương về sự dũng cảm, tính bền bỉ, và khả năng chiến đấu của các lực lượng Cộng sản, cả Việt Cộng và Quân đội Bắc Việt.

Mặc dù có một bình luận ngắn gọn là có một điệp viên Cộng sản đã báo động cho VC tại Ấp Bắc, Burns hoàn toàn không quan tâm đến vai trò của siêu gián điệp Cộng sản Phạm Xuân Ẩn, một đại tá trong quân đội Bắc Việt mà nhiều phóng viên Mỹ hay tiếp xúc, đã đóng trong cuộc phục kích được sắp đặt trước đó. Câu chuyện và vai trò của ông đại tá này đã sẵn có trên các nguồn tin công cộng.

Chúng tôi theo dõi chi tiết dài giòng về trận đánh Ấp Bắc, kéo dài tổng cộng chỉ 2 đến 3 ngày và được miêu tả như một thắng lợi vĩ đại của VC và thất bại của QLVNCH. Tuy nhiên, trong cuộc tấn công “Mùa Hè Đỏ Lửa” kéo dài ba tháng năm 1972 của Cộng sản, các chiến sĩ quân lực VNCH đã chiến đấu với sự dũng cảm và thành công to lớn, chỉ được trình chiếu trong tài liệu trong vài phút ngắn ngủi. Và không có một đề cập  nào nhắc đến những người thường dân tỵ nạn đổ xô chạy từ phía Bắc của miền Nam Việt Nam đã bị pháo binh của các lực lượng tiến quân Bắc Việt liên tục bắn giết.

Tôi biết có rất nhiều người thích nghe câu chuyện chi tiết về tài xế xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh, đặc biệt là phụ nữ, nhưng tôi không thấy có một câu chuyện nào về một phi công máy bay trực thăng Mỹ? Những người đàn ông này đã từng chiến đấu hàng chục năm trên những chiếc máy bay trực thăng luôn luôn hiện diện trong cuộc chiến mà chẳng bao giờ được nghe đến, nhưng chỉ thấy tài xế xe tải của quân đội Bắc Việt lại được nghe nhiều lần.

Trong khi tôi nghĩ rằng ông Burns và nhóm ông đáng được tôn trọng và đã làm một chuyện hay khi miêu tả nỗ lực và sự dâng hiến cuối cùng của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam của Hoa Kỳ, tôi đã rất thất vọng vì nhóm ông đã không bỏ thời gian nhiều hơn cho câu chuyện đời sống hòa nhập và đóng góp đáng khâm phục của người tỵ nạn và cựu chiến binh miền Nam Việt Nam cho đất nước chúng tôi. Đây là đài kỷ niệm duy nhất họ có: cuộc sống của họ ở đây và những gì họ đã trả lại cho chúng tôi, nước Hoa Kỳ.

Vài năm trước, tôi đã có tướng Lý Tòng Bá thăm nhà tôi trong nhiều ngày và trong thời gian ở lại đó, theo yêu cầu của ông, chúng tôi có mời em họ ông và chồng bà, những người sống không xa nhà tôi, đến nhà ăn tối.

Trong bữa tối, người chồng, một cựu sĩ quan Không Lực Nam Việt Nam, đã kể câu chuyện ông ta đến Mỹ tị nạn không có gì khác hơn có tổng cộng một đô la Mỹ trong túi áo. Với giọng run run, anh hỏi tôi làm cách nào chúng tôi có thể phản bội và bỏ rơi họ trên chiến trường. Tướng Bá và vợ người sĩ quan có vẻ “sốc” trước câu hỏi đó. Tôi không có câu trả lời nhưng nói rằng tôi xin lỗi rất nhiều vì những hành động của chính phủ chúng tôi lúc đó. Không có bất kỳ đề cập nào khác về chuyện đó nữa trong suốt phần còn lại của chuyến thăm hai giờ đó của chúng tôi. Trên thực tế, trong tất cả các mối quan hệ của tôi với những quân nhân tị nạn Việt Nam, đó là lần duy nhất  có người nói điều tiêu cực  về chuyện Hoa Kỳ đối xử với họ vào giờ cuối.  Ngược lại, nhiều người đã bày tỏ lòng biết ơn của họ rằng chúng tôi (Hoa Kỳ) đã cho họ thêm 20 năm tự do nữa.

Tôi vui mừng nghe thấy tiếng nói của người phụ nữ đã từng là một nhà hoạt động chống chiến tranh khi cô đã xin lỗi vì những hành động của cô cách đây nhiều năm. Tôi vui mừng vì tôi đã nghe được điều đó từ nhiều người khác; điều đó hồi phục tôi. Một số người đã thừa nhận chân thực rằng hành động của họ vào thời điểm đó không những chỉ gây tổn thương cho những người trong chúng tôi đã phục vụ với danh dự mà còn hỗ trợ kẻ thù trong thời gian người Mỹ vẫn đang chiến đấu và chết trên chiến trường.

Nếu các thành viên trong giới báo chí Mỹ đã giúp đỡ và khuyến khích chính phủ Cộng sản Bắc Việt bằng các báo cáo sai sự thật cuối cùng đã thừa nhận lỗi của họ, và xin lỗi người dân Mỹ, nhân dân miền Nam Việt Nam và cựu chiến binh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam vì những gì họ đã làm, điều đó có thể là một bước tiến lớn trong quá trình hàn gắn vết thương của một cuộc chiến tranh rất đau lòng. Điều họ làm đó không phải là không có tiền lệ vì cũng có những người khác đã từng làm.

Trong cuốn sách “Làm thế nào để Thua Một Cuộc Chiến: Báo Chí và Việt Nam”(How To Lose a War: The Press and Viet Nam ” năm 1981, ông Robert Elegant đã lên tiếng thay cho một số phóng viên đã công nhận những gì họ đã làm. “Trong nửa phần sau của cuộc xung đột mười lăm năm của Mỹ ở Việt Nam, truyền thông đã trở thành chiến trường chính. Các sự kiện huyền ảo do báo chí báo cáo cũng như các sự kiện thực sự trong giới báo chí có tính quyết định hơn là sự xung đột của vũ khí hoặc sự cạnh tranh của các ý thức hệ. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, kết quả của một cuộc chiến đã được quyết định không phải trên chiến trường mà là trên trang báo, và trên hết, trên màn hình truyền hình. Nhìn lại một cách bình tĩnh, tôi tin rằng người ta có thể nói (và vẫn còn có vẻ ngạc nhiên khi nghe) rằng quân đội miền Nam và Mỹ thực sự đã thắng cuộc đấu tranh quân sự giới hạn đó. Họ hầu như đã nghiền nát Việt Cộng ở miền Nam, những du kích ‘bản địa’, những người được chỉ đạo, tăng cường, và trang bị từ Hà Nội; và sau đó họ đã đẩy lui cuộc xâm lược của các sư đoàn chính quy Bắc Việt. Tuy nhiên, chiến tranh cuối cùng đã bị mất cho quân xâm lược sau khi Hoa Kỳ ly khai bởi vì các áp lực chính trị được các phương tiện truyền thông tạo dựng đã khiến Hoa Thịnh Đốn không thể duy trì được sự hỗ trợ tinh thần và vật chất tối thiểu mà có thể cho phép chế độ Sài Gòn tiếp tục chống trả hiệu quả “…

“Tôi đã tìm thấy vài phóng viên Mỹ có đầu óc cứng rắn như một người Anh mà tôi biết, người đã rất gần với hành động trong nhiều năm qua trong việc sử dụng dịch vụ thông tin Hoa Kỳ. “Tôi cảm thấy xấu hổ về phần lớn những gì tôi viết ở Việt Nam”, ông nói với tôi lúc gần đây. “Nhưng tôi là một cậu bé mới, và tôi đã theo gương người Mỹ, những người đã nôn nóng với tinh thần chinh chiến của báo giới thập niên 1960 – sự liên quan, con người, trong cuộc chiến tốt đẹp. Bây giờ khi tôi nhìn vào những gì đã xảy ra, tôi cảm thấy xấu hổ về sự thiếu hiểu biết của mình – và những gì tôi đã giúp gây ra cho người Việt Nam. “Một phóng viên Tây Đức đã thú nhận (Uwe Siemon-Netto trong International Herald Tribune, in lại trong Encounter, Tháng 10 năm 1979): Sau khi đã theo dõi cuộc chiến tranh Việt Nam trong thời gian 5 năm cho các báo xuất bản của Tây Đức, hiện nay tôi còn bị ám ảnh bởi vai trò mà các nhà báo chúng tôi đã đóng nơi đó.

“Việc tài liệu TỐI MẬT của Hoa Kỳ đã bị đánh cắp và được xuất bản trong một thời gian khi mà những nam nữ quân nhân Mỹ vẫn tiếp tục chiến đấu, thời đó và giờ đây vẫn làm tôi kinh hoàng. Việc tiết lộ những tài liệu TỐI MẬT này, những văn thư của Ngũ Giác Đài, đã chia rẽ sự ủng hộ của các nỗ lực chiến tranh ở trong nước và do đó nó đã giúp đỡ và khuyến khích kẻ thù để giết những quân nhân Mỹ trên chiến trường.

Việc tội trạng của những người phát hành tài liệu gần như hoàn toàn được bỏ qua, và trên thực tế còn được hoan nghênh, trong khi một đột nhập vụng về cấp thấp vào các cơ quan vận động tranh cử của đảng Dân chủ đã trở thành tâm điểm của việc hạ bệ một Tổng thống đắc cử vẻ vang một năm trước đó là điều đáng kinh ngạc đối với tôi. Kết quả đó là một tàn phá đối với hàng triệu người Việt Nam tự do, những người đã đặt tin tưởng vào tay vị Tổng thống đó.. Đến ngày hôm nay chúng tôi vẫn sống với những ảnh hưởng của việc theo đuổi tội ác nhỏ nhặt này.

Tôi nhận ra rằng bây giờ phim tài liệu Chiến tranh Việt Nam của Ken Burns có vẻ như đi vào trong lịch sử như là “Tiêu chuẩn Vàng”, nhưng tôi thật sự lấy làm tiếc rằng cơ hội để hàn gắn vết thương của chiến tranh đó đã bị mất đi do hành vi thiếu sót của ông Burns và bà Novick.

Jack Heslin – The Scribe

“Chiến tranh là một điều xấu xí nhưng không phải là xấu nhất của sự vật. Những trạng thái mục nát và suy thoái của tinh thần đạo đức và yêu nước cho rằng không có gì là giá trị để có chiến tranh còn tồi tệ hơn nhiều. Kẻ không có gì để sẵn lòng chiến đấu, không có gì quan trọng hơn sự an toàn cá nhân của riêng mình, là một sinh vật khốn khổ và không có cơ hội được tự do trừ khi được thực hiện và giữ như vậy bởi những nỗ lực của những người tốt hơn hắn.”

John Stuart Mill

The Battle of Kontum

http://www.thebattleofkontum. com<http://www.thebattleofkontum.com/>

Hình tác giả: Lt. Col. John G. “Jack” Heslin (U.S.Army, retired)

Anh Thi Phan phiên dịch.

——————————————————————————————————————

Nguồn: Internet/Email, in English – Cám ơn niên trưởng Phan Văn Phúc

From:               Phan PV phucanh1@yahoo.com

Subject:            Fw: Ken Burns Vietnam War Documentary Episode 10

 

About VietNam War Documentary .

—– Forwarded Message —–
Hello, J. Patrick Garland,

Last night my wife and I watched Episode 10 of the Ken Burns Vietnam War Documentary.  It was painful for us to watch.  The scenes of the crushing destruction of South Vietnam by one of the most brutal Communist regimes in the world, at that time, was as appalling as it was when we first witnessed it in April 1975 on television.

In 1975, my wife and I decided that the only thing we could do was to offer our home to Vietnamese refugees, so we did.  We had four little children at the time, and I was an ROTC instructor at the University of Rhode Island.  We modified our house to accommodate what we thought would be a Vietnamese refugee family.  However, since we were living in Rhode Island, many Vietnamese feared the very cold winters.

In the fall of 1975 we were notified that there was a group of difficult-to-place refugees: single males who could not speak English, and we were asked to take one.  We agreed, and he arrived shortly after. Some months later, we met a second single Vietnamese man, whose sponsor had just passed away unexpectedly, leaving a wife and nine children. This man also came to live with us.  All of this started a two-year journey with Vietnamese men living in our home.

On most Sundays, my wife and I hosted a group of 6 – 8 Vietnamese men coming into her kitchen to cook their own food and spend hours talking together and sharing, with my wife, the incredible suffering they felt for the loss of their families and their country.  They shared these horrific stories with my wife; but, when in my presence, they never cried or complained. One of them eventually married my wife’s youngest sister and has been part of our family now for more than 40 years.

I am telling this story to explain the unmitigated horror we felt when we saw the most powerful nation in the world, America, stand back and watch the total destruction of a longtime ally to whom we had made “blood” commitments.  To this day, we feel that we as a nation utterly betrayed a people who had totally committed their lives and fortunes to our word; that failure in our view is a blood stain that will not be easily washed away, and it should never happen again.

My disappointment with the Ken Burns series is more in the omissions, what was not told, than the commissions, what was said..

The opening story of the Battle of Ap Bac told only one side of the story, although there are sources that could have been reviewed for a different view, namely the work of Ly Tong Ba, the young ARVN Captain who commanded the M-113 armored personal carrier company.  I have read it and heard it directly from Ba.

The report of that battle by the American press, of “the failure, incompetence and cowardliness of the ARVN military” was the first major nail in the coffin of President Ngo Dinh Diem and the beginning of years of the American Press’s derision of the ARVN forces and leadership.  The Burns documentary supported that view almost exclusively, even though there were passing affirming statements by the narrator.  On the other hand, we were listening to a “drum beat” of accolades about the bravery, tenacity, and combat skill of the Communist forces both VC and NVA.

In spite of  a brief fleeting comment, that maybe a Communist spy had tipped off the VC at Ap Bac, Burns totally disregarded the role that the Communist super spy Pham Xuan An, Colonel in the NVA, the go-to reporter for many American reporters, played in that preset ambush.  His story and his role is readily available in the open sources.

We watched in excruciating detail the battle of Ap Bac that lasted a total of 2 – 3 days and was portrayed as a great VC victory and ARVN defeat.  However, the three month long Easter Offensive of 1972, where ARVN soldiers fought with great courage and success, is covered in the documentary in a matter of a few minutes. And not once was there any mention that as the Vietnamese civilian refugees poured out of the Northern part of South Vietnam, they were under almost continuous artillery fire from the advancing NVA forces.

I know for many it was interesting to hear the detailed story of truck drivers on the Ho Chi Minh Trail, especially the women, but where was there even a single story of an American helicopter pilot?  The men who fought in the ever-present helicopters for ten years were never heard from, but the NVA truck drivers were heard repeatedly.

While I think Burns and company were respectful and did a good job in portraying the effort and final dedication of the American Vietnam War Memorial, I was disappointed that more time was not given to the incredible story of the South Vietnamese people and veterans assimilating into our country and the contributions they have made.  It is the only memorial they will ever have: their lives here and what they have given back to us, the United States of America.

Several years ago, I had General Ly Tong Ba visit my home for several days and during that stay, at his request, we had his cousin and her husband, who live not far away, come to our home for dinner.

During the dinner, the husband who had been a South Vietnamese Air Force officer told his story of coming to America as a refugee with a total of one US dollar in his shirt pocket and nothing else.  With a quivering voice he asked me point blank how we could have betrayed them and completely abandoned them on the field of battle.  General Ba looked shocked at the question as did the man’s wife.  I had no answer but to say how deeply sorry I was for the actions of our government at that time. There was no other mention of any of that during the rest of the two-hour visit we had. In fact, in all my many contacts with Vietnamese military refugees, that was the only time I have had anyone say anything negative about how they were treated by the U.S. in the end. In contrast, many have expressed their gratitude that we (the U.S.) gave them 20 more years of freedom.

I was pleased to hear the voice of the woman who had been an anti-war activist as she apologized for her actions so many years ago.  I am pleased that I have personally heard that from others; that is healing for me. Some people have truthfully acknowledged that their actions at that time were not only hurtful to those of us who served with honor but also aided the enemy during the time Americans were still fighting and dying on the field of battle.

If those members in the American Press who aided and abetted the North Vietnamese Communist government with their false reporting would finally admit their error and apologize to the American people, the South Vietnamese people, and the American Vietnam War veterans for what they did, that would represent a huge step forward in the healing process of that very painful war.  It is not without precedence that they do that; others have.

In his 1981 paper “How to Lose a War: The Press and Viet Nam” Robert Elegant gave voice to some reporters who recognized what they had done.

“During the latter half of the fifteen-year American involvement in Viet Nam, the media became the primary battlefield. Illusory events reported by the press as well as real events within the press corps were more decisive than the clash of arms or the contention of ideologies. For the first time in modern history, the outcome of a war was determined not on the battlefield but on the printed page and, above all, on the television screen. Looking back coolly, I believe it can be said (surprising as it may still sound) that South Vietnamese and American forces actually won the limited military struggle. They virtually crushed the Viet Cong in the South, the ‘native’ guerrillas who were directed, reinforced, and equipped from Hanoi; and thereafter they threw back the invasion by regular North Vietnamese divisions. Nonetheless, the war was finally lost to the invaders after the U.S. disengagement because the political pressures built up by the media had made it quite impossible for Washington to maintain even the minimal material and moral support that would have enabled the Saigon regime to continue effective resistance.”…..

“I found few American correspondents to be as tough-minded as one Briton I knew who was very close to the action for many years in the employ of an American wire-news service. ‘I’m ashamed of most of what I wrote in Viet Nam,’ he told me recently. ’But I was a new boy, and I took my lead from the Americans, who were afire with the crusading spirit of ’60s journalism—the involvement, man, in the good fight. When I look at what’s happened now, I’m ashamed of my ignorance—and what I helped to do to the Vietnamese.’

“As one West German correspondent has confessed (Uwe Siemon-Netto in the International Herald Tribune, reprinted in Encounter, October 1979):  Having covered the Viet Nam war over a period of five years for West German publications, I am now haunted by the role we journalists have played over there.”

The fact that TOP SECRET US documents were stolen and published during a time when American service men and women were still on the field of battle was then and is now appalling to me.  That release of those TOP SECRET documents, the Pentagon Papers, was divisive to the support of the war effort at home and therefore it too aided and abetted the enemy who were killing American service men on the field of battle.

The fact that the crime of those people who released the documents was almost totally overlooked and in fact applauded, while a low level, amateurish break-in to the Democratic campaign offices became the focal point of bringing down a President who had been elected overwhelmingly a year earlier is amazing to me.  The result was devastating to millions of free South Vietnamese people who had put their trust in the hands of that President.. We still live today with the effects of pursuing that petty crime.

I realize that now the Ken Burns Vietnam War documentary is likely to go down in history as the “Gold Standard,” but I truly regret that the opportunity to heal the wounds of that war have been lost through Burns’ and Novick’s acts of omission.

Jack HeslinThe Scribe

“War is an ugly thing, but not the ugliest of things. The decayed and degraded state of moral and patriotic feeling which thinks that nothing is worth war is much worse. The person who has nothing for which he is willing to fight, nothing which is more important than his own personal safety, is a miserable creature and has no chance of being free unless made and kept so by the exertions of better men than himself.”

-John Stuart Mill

The Scribe

The Battle of Kontum

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *