Đồng bào Thượng & đồng bào thiệt

Chúng tôi bây giờ chỉ cầu mong tất cả cộng đồng người Việt ở Hải ngoại và các tổ chức hãy quan tâm đến sự sống của người Thượng tỵ nạn. Đây là lời nói chân thành từ đáy lòng.

Y Thoat Knul

Vào cuối thế kỷtrước, tôi có viết cái truyện ngắn (dự tưởng) về chuyến bay hồi hương củamột chàng thanh niên, đang hăm hở trở lại Việt Nam, ngay sau khi đất nước này vừa thoát khỏihiểm hoạ cộng sản.

Tựa tuy đã quên nhưng tôi vẫn còn nhớ (loáng thoáng) đôi câu:

Phi cơ chao cánh,nhìn qua khung cửa sổ là một dòng sông yêu kiều lượn khúc, đang lấp lánh dưới ánh nắng chiều: Sông Sài Gòn. Tôi kêu khẽ và không ngăn được đôi dòng nước mắt!

Chiều qua, khi chiếc Airbus 320 của Vietnam Airlines nghiêng mình trên không phận Sài Gòn, tôi mới thực sự thấy lạihình ảnh của dòng sông (cũ) y như mình đã hình dung, mấy mươi năm trước. Chỉ khác có điều khác là tôi không còn khóc nữa. Tuổi già hạt lệ như sương.

Gã thanh niên năm xưa, nay, đã trởthành một công dân lão hạng mà đường về thì vẫn còn khoá kín. Xuống phi trường Tân Sơn Nhất, thay vì đi lấy hành lý như phần đông hành khách, tôi cùng vài người ngoại quốc rẽ qua lối khác – lốidành cho hành kháchquá cảnh.

Dù đã biết rõ lộ trình như vậy nhưng tôi vẫn cảm thấy nặng lòng,và hơi hụt hẫng. Tôi đã ghéqua rất nhiều phi trường, với tâm trạng trống không, chỉ để chờ chuyến bay kế tiếp. Thực khó mà tưởng tượng, lại có lúc, mình phải “quá cảnh”ngay trên mảnh đất quê hương.

Tôi lặng người nhìn lại Sài Gòn từ sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi sinh ra ở thành phố này, và cũng bỏ đi biền biệt từ đây. Hơn ba mươi năm sau tôi mới có dịp trởvề chốn cũ, bùi ngùi đứng ngó cố hương qua một khung cửa kính rồi(thở dài) đi tiếp.

Tôi chưa có lối về, đã đành; hàng triệu người dân Việt khác vẫn tiếp tục bỏ đi. Theo dữ liệu của Tổ Chức Di Dân QuốcTế (IMO) “từ năm 1990 đến năm 2015 có hơn 2,5 triệu người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Tính trung bình trong 26 năm, mỗi năm có khoảng gần 100 nghìn người Việt di cư.”

Sự kiện trên đã được đạo diễn Song Chi ghi lại qua một bài viết ngắn (“Dòng Người Ra Đi Chưa Bao Giờ Dừng Lại“)với ít nhiều cay đắng:

“Thực tế, kể từ sau khi chiến tranh VN kết thúc, người Việt bắt đầu bỏ nước ra đi, và trong suốt 40 năm qua, dù có khi ồ ạt, có khi lặng lẽ, nhưng dòng người ra đi chưa bao giờ dừng lại. ..

Nhưng có vẻ như càng ngày số người tính chuyện ra đi càng nhiều hơn, thành phần đa dạng hơn, tạo cảm giác đất nước như một con thuyền đang đắm!“

Trong số “thành phần đa dạng” này, công luận vẫn thường hay vẫn bỏ quên những người bản địa. Sau những biến động khốc liệt xẩy ra ở Tây Nguyên (20012004) và Điện Biên (2011), không ít sắc dân miền núi ở Việt Nam cũng buộc phải rời bỏ bảng làng. Họ thường phải trải qua những chuyến đi vô cùng gian lao mà điểm đến thì hoàn toàn vô định, hay … vô vọng.

  Người dân tộc H'mong vô vọng bảo vệ Nhà tang lễ trước lúc nhà tang bị tấn công và tàn phá năm 2013. Ảnh & chú thích: RFA

Người dân tộc H’mong vô vọng bảo vệ Nhà tang lễ trước lúc nhà tang bị tấn công và tàn phá năm 2013. Ảnh & chú thích: RFA

Trong những trang sổ tay trước, chúng tôi đã có dịp đề cập đến vài mảnh đời lưu lạc của đồng bào H’mong đến từ Mường Nhé. Những dòng chữ còn lại của S.T.T.D hôm nay xin được dành riêng cho những đồng bào Thượng đi từ Tây Nguyên mà chúng tôi đã có dịp tiếp chuyện – đôi ba lần – ở ven đô Bangkok.

Sở dĩ họ chọn Bangkok là chỗ dừng chân vì nơi đây ngoài vòng ảnh hưởng của nhà nước CSVN nên an toàn hơn nhiều so với Phnom Penh. Thủ Đô nước Thái cũng phú túc hơn nên một di dân bất hợp pháp có thể kiếm sống, bằng cách này hay cách nọ, không mấy khó khăn.

Từ Bangkok, thông tín viên Anh Vũ (RFA) đã gửi đi loạt bài phóng sự truyền thanh (“Làn Sóng Người Ti Nạn Từ Việt Nam“) cặn kẽ. Xin ghi lại một vài đoạn ngắn để rộng đường sư luận:

Trong những năm 2001 đến 2007, trước hiện trạng đất canh tác dần dần bị rơi vào tay các đồn điền cao su của người Kinh di cư từ miền xuôi lên, cộng với sự cấm đoán ngặt nghèo của chính quyền đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hàng loạt các cuộc biểu tình của người Thượng Tây nguyên đã nổ ra để đòi trả lại đất đai bị thu hồi và đòi nới rộng quyền tự do tôn giáo.

Để đối phó với các cuộc biểu tình đông người, chính quyền VN đã tiến hành nhiều đợt đàn áp nhằm vào người Thượng ở Tây Nguyên, từ đó nhiều người Thượng Tây nguyên tìm đường trốn chạy sang Campuchia để tìm qui chế tỵ nạn...

Ông Y Heo KNuil Ly dân tộc Ê đê ở tỉnh Đaklac đã chạy sang tỵ nạn tại Thái Lan từ năm 2008 nói với chúng tôi:

“Từ trại tỵ nạn ở Campuchia chúng tôi phải chạy trốn sang Thái Lan vào năm 2008, lý do tôi phải bỏ trốn khỏi đất nước quê hương tôi một phần cũng vì vấn đề chính trị. Trước việc đất đai của cha ông chúng tôi đã bị chính quyền thu hết thì chúng tôi đã đi biểu tình để phản đối cái đó và yêu cầu chính phủ Hà nội phải tôn trọng quyền của người Thượng ở Tây nguyên. Một phần nữa họ đã ghép tôi tội hoạt động tôn giáo Tin lành và họ đã ghét bỏ tôi nên buộc tôi phải chạy sang Campuchia để tỵ nạn.”

Nói về những khó khăn của những người Thượng Tây nguyên tỵ nạn ở Thái Lan đã và đang gặp phải trong thời gian vừa qua, ông Y Thoat Knul bày tỏ:

“Vì mình không có giấy tờ nên phải đi làm chui thôi, làm phụ hồ, làm rửa xe, làm đủ các công việc. Mỗi ngày phải làm việc từ 10-14 tiếng đồng hồ, không có nghỉ, phải chấp nhận làm nô lệ thôi. Với cuộc sống bơ vơ hiện tại thì khôngbiết tin vào ai, không biết phải làm gì và không biết mình sẽ rơi vào tay ai. Đó còn chưa kể đến chuyện ốm đau, bệnh tật và biết bao các thứ chuyện khác…”

Tình cảnh những người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan khó khăn là như vậy, song sự quan tâm của các tổ chức và cá nhân người Việt đối với họ còn ở mức hết sức khiêm tốn. Trong một tâm trạng buồn tủi, ông Y Thoat Knul nói về nguyện ước của ông và bà con người Thượng Tây nguyên đang tỵ nạn ở Thái Lan. Ông nói:

“Cuộc sống của chúng tôi rất mong manh, không biết sẽ đi đâu, về đâu khi mà Cao ủy LHQ đã bỏ rơi chúng tôi hoàn toàn. Chúng tôi bây giờ chỉ cầu mong tất cả cộng đồng người Việt ở Hải ngoại và các tổ chức hãy quan tâm đến sự sống của người Thượng tỵ nạn. Đây là lời nói chân thành từ đáy lòng.”

 

Bẩy người dân Tây Nguyên vừa đặt chân đến Cambodia, vào cuối tháng 6 năm 2016. Ảnh tư liệu của MIRO chụp tại chùa Samaki Raingsei ở Phnom Penh.

Bẩy người dân Tây Nguyên vừa đặt chân đến Cambodia,
vào cuối tháng 6 năm 2016. Ảnh tư liệu của MIRO chụp tại chùa Samaki Raingsei ở Phnom Penh.

Như đã thưa, tôi đã có dịp cụng ly với qúi ông Y Heo KNuil Ly, Y Thoat Knul, cùng nhiều ông bà, và trẻ em khác nữa. Chúng tôi đều là những kẻ sinh trưởng ở Tây Nguyên, đều rất hảo rượu, và thời tiết Thái Lan thì đặc biệt thích hợp cho loại bia Singha ướp lạnh nên câu chuyện (bên bàn nhậu) luôn luôn rôm rả và rất “đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc” … cho đến khi mọi người đều quá chén.

Vui quá rồi cũng hóa buồn. Sau khi uống mềm môi những người bạn đồng ẩm của tôi cứ thường nhắc đi nhắc lại những câu nói rất chí tình (tương tự)nhưlời như ông Y Thoat Knul:

“Chúng tôi bây giờ chỉ cầu mong tất cả cộng đồng người Việt ở Hải ngoại và các tổ chức hãy quan tâm đến sự sống của người Thượng tỵ nạn. Đây là lời nói chân thành từ đáy lòng.”

 

Gặp gỡ và cụng ly ở Bangkok. Ảnh: Nguyễn Xuân Kim Top of Form Bottom of Form

Gặp gỡ và cụng ly ở Bangkok. Ảnh: Nguyễn Xuân Kim
Top of Form
Bottom of Form

 

May nhờ có rượu nên những người ngồi chung bàn không rằng “lời nói chân thành từ đáy lòng” ủa họ đã khiến tôi đỏ mặt. Tôi xấu hổ vì biết chắc rằng chưa hề bao giờ có bất cứ tổ chức nào bận tâm đến số phận đến những người Thượng đang sống vất vưởng ở Phnom Penh hay Bangkok. Dù ở trong hay ngoài nước, đối với đám người Kinh – nói chung – đồng bào Thượng có lẽ chưa bao giờ là đồng bào thiệt cả.

Với tâm thức hẹp hòi này thì dân Việt sẽ còn gặp nhiều thảm kịch khác – trong tương lai gần – ngay cả sau khi những người cộng sản đã đội nón ra đi.

K’ Tien

…………………………………………………

Dòng người ra đi chưa bao giờ dừng lại…

SONG CHI·26 THÁNG 7 2016

Chỉ trong một ngày, chat với người quen, bạn bè qua facebook, viber…cả 3 câu chuyện đều cùng một chủ đề: ra đi khỏi Việt Nam.
Một người quen qua facebook báo tin sắp đến Na Uy, quốc gia nơi tôi đang sinh sống, định cư theo diện hôn nhân. Một người quen trong nghề, thuộc thế hệ đàn em trong giới truyền hình, hỏi ý kiến tôi vể việc có nên bỏ tất cả công việc, sự nghiệp ra đi bây giờ theo diện đầu tư kinh doanh ở nước ngoài hay vài năm nữa liệu có còn kịp. Và một chị bạn thân đang tính liều đến mức trước hết là đi Mỹ theo diện du lịch, rồi sang đó tìm đường tính tiếp.
Cả ba đều không phải là những người nghèo hay đang có cuộc sống khó khăn, thất bại ở VN, trái lại, họ có tiền, có công việc, cuộc sống vật chất phải nói là khá thoải mái.
Nhưng họ muốn ra đi trước hết vì môi trường sống ở VN ngày càng tệ khiến con người luôn ở trong cảm giác bất an, lo lắng. Từ thực phẩm không an toàn, cho tới nguồn nước, không khí, biển…nhiều nơi bị ô nhiễm/nhiễm độc nặng nề; đạo đức xã hội xuống cấp, những vụ án cướp giết hiếp ngày nào cũng xảy ra với mức độ ngày càng dã man, con người dễ dàng bức hại nhau, lừa lọc nhau, giết nhau chỉ vì một lý do vặt vãnh; chế độ an sinh xã hội không có để bảo đảm cho người dân một sư hỗ trợ khi cần thiết, lúc ốm đau, tai nạn, thương vong; pháp luật không bảo đảm cho con người được xét xử công bằng, công lý được thực thi, những quyền lợi tối thiểu về tự do, dân chủ, nhân quyền không có, không được tôn trọng v.v…
Quan trọng hơn, họ ra đi vì không tin rằng chế độ này, nhà nước này sẽ tốt đẹp hơn hoặc sẽ đưa đất nước, dân tộc đến một tương lai sáng sủa-thời gian đảng cộng sản cầm quyền đã quá lâu đủ để chứng minh điều đó.
Đây không phải là lần đầu, ngược lại, rất nhiều lần, tôi chứng kiến những người quen, bạn bè, họ hàng chuẩn bị rời bỏ VN. Nhưng có vẻ như càng ngày số người tính chuyện ra đi càng nhiều hơn, thành phần đa dạng hơn, tạo cảm giác đất nước như một con thuyền đang đắm!
Thực tế, kể từ sau khi chiến tranh VN kết thúc, người Việt bắt đầu bỏ nước ra đi, và trong suốt 40 năm qua, dù có khi ồ ạt, có khi lặng lẽ, nhưng dòng người ra đi chưa bao giờ dừng lại.
Giai đoạn 1976-1980s, chủ yếu là người miền Nam, chủ yếu vì lý do chính trị, tạo nên một trong những cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử nhân loại ở thế kỷ XX, rúng động thế giới với những bi kịch thương đau của bao phận người bị chết đuối, bị giết, bị hải tặc cướp bóc, hãm hiếp, gia đình tan đàn xẻ nghé…trên hành trình tìm đến tự do. Và hai chữ “thuyền nhân” (boat people) gắn liền với giai đoạn đau thương đó. Đến khi chính phủ Hoa Kỳ làm việc với nhà nước VN, mở ra những con đường ra đi chính thức theo diện HO, con lai, đoàn tụ gia đình, và các trại tỵ nạn ở các nước Đông Nam Á lần lượt đóng cửa không tiếp nhận người Việt tỵ nạn nữa, thì dòng người ra đi theo con đường vượt biển mới dần dần chấm dứt (trong vài năm gần đây lại có hiện tượng vượt biển sang Úc nhưng thường là bị chính phủ Úc trả về, không chấp thuận cho ở lại).
Nhưng người Việt lại tìm được cho mình những con đường khác. Bây giờ thành phần ra đi đa dạng hơn, ở cả ba miền đất nước, chủ yếu vì lý do kinh tế, nhưng rải rác cũng có những trường hợp ra đi vì lý do chính trị. Người ta đi bằng con đường xuất khẩu lao động, ban đầu là “xuất khẩu lao động” sang các nước XHCN sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ từ Đông Âu, Đông Á, Đông Nam Á, Trung Đông, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Kuwait, cho tới châu Phi…Thực chất là một kiểu buôn người công khai, được nhà nước cho phép. Cho đến nay thì VN có khoảng trên dưới 600, 000 lao động ở nước ngoài, hàng năm đẹm lại một nguồn ngoại tệ không nhỏ cho VN. Người ta đi bằng con đường hôn nhân, làm việc, đầu tư kinh doanh, du học rồi tìm cách xin việc và ở lại, đi du lịch và trốn ở lại bất hợp pháp trên nước người…
Bài báo “Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài” (Vietnam Finance) viết:
“Phần lớn người Việt di cư sang các nước phát triển trên thế giới. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư ra nước ngoài nhiều nhất khu vực Đông Á – Thái Bình Dương tính đến năm 2013.
Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm 2015 có 2.558.678 người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Như vậy tính trung bình trong 26 năm, mỗi năm có khoảng gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài.
… Theo một báo cáo của Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao Việt Nam, chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Quy luật cung – cầu về sức lao động, dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã hội,…đã thúc đẩy các luồng di cư từ Việt Nam ra nước ngoài. Số lượng người Việt Nam đang lao động, học tập và sinh sống ở nước ngoài hiện đã lên đến con số nhiều triệu người. Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng gia tăng.”
Không chỉ dân thường bỏ nước ra đi, những năm sau này, số lượng người thành đạt, có chức vụ trong xã hội, kể cả quan chức cũng ra đi ngày càng nhiều. Người dân ra đi vì không có niềm tin vào chế độ, vào nhà cầm quyền. Quan chức ra đi để bảo vệ tài sản tham nhũng, ăn cắp được sau bao nhiêu năm. Chất xám, trí tuệ, và tiền bạc, tài sản của dân của nước bị các quan tham và những kẻ lừa đảo mang theo, ồ ạt chảy sang nước khác.
Đó là chưa kể số quan chức vẫn còn ở lại trong nước, vẫn tiếp tục làm việc, hưởng lợi, vơ vét nhưng đã “chân trong chân ngoài”, âm thầm chuẩn bị đường rút cho mình bằng cách cho vợ con hoặc người thân đi trước, mua nhà cửa cơ sở vật chất, làm ăn sẵn hoặc đã mua quốc tịch ở một quốc gia tư bản phát triển.
Câu chuyện bà Nguyễn Thị Nguyệt Hường, tỷ phú bất động sản, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc của VID Group, Chủ tịch hội đồng sáng lập Ngân hàng Maritime Bank vừa bị bác tư cách đại biểu Quốc hội khóa XIV vì bị phát hiện có 2 quốc tịch VN và Malta (chồng bà Hường, ông Trần Anh Tuấn-Chủ tịch Hội đồng MaritimeBank nhiệm kỳ 2012-2016 cũng đã có quốc tịch Malta) chỉ là một ví dụ. Còn bao nhiêu quan chức, doanh nhân thành đạt đã mua quốc tịch nước khác mà không ai biết. Hay câu chuyên cựu Ceo FPT Trương Đình Anh, người đặt nền móng và xây dựng FPT Telecom, FPT Online, mới đây cũng đưa cả nhà sang Mỹ sinh sống, làm việc.
Với những người tài ra đi, là nỗi buồn chảy máu chất xám. Với những quan chức tham nhũng, đại gia lừa đảo ra đi, là nỗi lo số tài sản tiền bạc của nhân dân bị thất thoát không biết làm sao lấy lại.
Hiện tượng người dân vẫn tiếp tục bỏ đất nước ra đi, dù với bất kỳ lý do nào, điều đó chứng tỏ một sự thật chua chát là trong suốt hơn 40 năm qua, tuy thống nhất được quê hương và giành được độc quyền lãnh đạo, đảng cộng sản VN đã thất bại trong việc điều hành quản lý đất nước. Thất bại trong việc xây dựng VN trở thành một quốc gia độc lập-tự do-hạnh phúc đúng với câu khẩu hiệu có khắp nơi và trên mọi giấy tờ hành chính, nơi mà người dân cảm thấy gắn bó, muốn cống hiến và muốn sống từ đời này sang đời khác. Thất bại trong việc tạo nên niềm tin cho người dân vào năng lực của nhà cầm quyền và tương lai của đất nước dưới sự lãnh đạo của họ.
Điều đó cũng chứng tỏ sự thất bại của cuộc “cách mạng tháng Tám 1945” với mục đích lật đổ chế độ phong kiến thực dân, xây dựng chế độ mới XHCN hay cuộc chiến tranh kéo dài hơn 20 năm với danh nghĩa “chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”; đồng nghĩa với sự hy sinh xương máu của hàng triệu con người là lãng phí, khi thành quả lại là một chế độ độc tài, bán nước hại dân, một đất nước bị tụt hậu về mọi mặt, bị tàn phá đến cạn kiệt, còn người dân thì phải bỏ nước tha hương.
.
https://www.facebook.com/notes/song-chi/d%C3%B2ng-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-ra-%C4%91i-ch%C6%B0a-bao-gi%E1%BB%9D-d%E1%BB%ABng-l%E1%BA%A1i/10154314666707310

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *