7, Tài Liệu

Tóm tắt lịch sử giết người của đảng Cộng sản Trung Quốc

Tuyết Mai 


Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập năm 1921, giành được chính quyền năm 1949. Theo thống kê, có khoảng 80 triệu người Trung Quốc đã bị chết bất thường (bức hại, đói khổ, hành quyết…) dưới thời cai trị của ĐCSTQ. Con số này nhiều hơn số người chết trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Hãy cùng điểm lại hành trình giết và giết của ĐCSTQ…

Thảm sát Đoàn AB

Đoàn AB là một tổ chức thuộc Quốc dân đảng được thành lập tại Giang Tây vào tháng 12/1926, mục đích nhằm chống lại ĐCSTQ đã chiếm quyền lực của Quốc dân đảng tại Giang Tây.
Tháng 4/1927 Đoàn AB tan vỡ. Nửa sau năm 1930, ĐCSTQ phát động phong trào chống Đoàn AB và đã giết hại vô số người từng làm việc cho tổ chức này.

Năm 1953, tại Phụ Khang – Tân Cương, quân sĩ của ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” (National Archives).
Tháng 12/1930, Quân đoàn 20 Hồng quân Công nông Trung Quốc phát động binh biến tại Phú Điền – Giang Tây, chiếm thị trấn Phú Điền và thả tất cả người bị bắt, bắt nhân viên chính phủ bản địa của ĐCSTQ. Ngày 28/3, lãnh đạo tối cao ĐCSTQ Vương Minh (Wang Ming) cử Bật Nhậm Thời phụ trách khu Xô-Viết trung ương, tuyên bố biến cố Phú Điền là “bạo động chống cách mạng”. Ngày 18/4, lãnh đạo binh biến của Quân đoàn 20 bị bắt trong lúc đi tham gia đàm phán, sau đó bị hành quyết. Tháng Bảy cùng năm, Quân đoàn 20 bị điều đến trại Bình Đầu Giang Tây và bị quân của Bành Đức Hoài cùng Lâm Bưu bao vây tước vũ khí, hơn 700 quân bị đưa đi hành quyết.
Sau biến cố Phú Điền, phong trào tấn công Đoàn AB nổi lên cao trào mới, mức tàn khốc khác thường, “trói tay treo người lên tra tấn, kẻ nào ngoan cố còn bị dùng dầu lửa thiêu thân, thậm chí dùng đinh đóng tay vào bàn gỗ và dùng nạt tre đâm vào trong móng tay”. Chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người tại khu Xô-Viết Giang Tây đều sống trong tình trạng nguy hiểm tính mạng, trong nhiều cơ quan của ĐCSTQ tại khu vực có đến 80 – 90% người trở thành “phần tử AB”, tổng cộng hơn 70.000 người đã bị giết.
Ông Mao Trạch Đông là người trực tiếp phụ trách trấn áp. Sau này ĐCSTQ thừa nhận, đa số những người hành quyết đều là người vô tội.

Chỉnh đốn Diên An

Từ đầu năm 1942 đến tháng 4/1945 nổ ra phong trào chỉnh đốn tại Diên An, đây cũng là phong trào quy mô lớn đầu tiên do đích thân ông Mao Trạch Đông lãnh đạo, phong trào khủng bố đẫm máu này đã đưa Mao lên địa vị quyền lực tột đỉnh trong Đảng.
Nhà văn Vương Thực Vị (Wang Shiwei) là phần tử trí thức đầu tiên bị giết hại trong chỉnh đốn Diên An.
Trong phong trào chỉnh đốn Diên An đã giết hại hơn 1.000 người. Người bị hại nổi tiếng nhất là trí thức Vương Thực Vị. Ông Vương Thực Vị đến Diên An vào tháng 10/1937, làm việc tại phòng biên dịch học viện Marx, đã dịch tổng cộng hơn hai triệu chữ trong bộ tác phẩm kinh điển của Marx. Từ tháng 2/1942, học giả Vương Thực Vị đã viết bài cho các tạp chí Cốc Vũ, Nhật báo Giải phóng, và tạp chí của Viện Nghiên cứu Trung ương, tố cáo khoảng tối trong “cuộc sống mới” tại Diên An, đặt vấn đề chế độ đẳng cấp và xu thế quan liêu hóa của ĐCSTQ. Những bài viết đã khiêu chiến với quan điểm của Mao, và bị liệt vào phần tử chống cách mạng, đặc vụ ngầm của Quốc dân đảng.
Ngày 1/4/1943, Khang Sinh ra lệnh bắt Vương Thực Vị. Tháng 6/1947, máy bay của quân Quốc dân đảng đã phá hủy trại giam Vương Thực Vị. Bộ trưởng Công an ĐCSTQ Khang Sinh và Thứ trưởng Lý Khắc Nông chỉ đạo cho hành quyết bí mật Vương Thực Vị. Ngày 1/7/1947 tại huyện Hưng – Sơn Tây, học giả Vương Thực Vị bị đưa đi chém tại một khu hẻo lánh ven sông Hoàng Hà, thi thể bị quăng xuống sông.
Hiện nay chưa từng có công bố số liệu phong trào chỉnh đốn Diên An giết chết bao nhiêu người.

Vây khốn thành Trường Xuân

Ngày 13/3/1948, liên quân dân chủ Đông Bắc chiếm Tứ Bình, và Trường Xuân trở thành một ốc đảo bị quân của ĐCSTQ bao vây. Ngày 7/6/1948, ông Mao Trạch Đông chính thức cho phép dùng phương án bao vây cắt đường lương thực tại Trường Xuân. Khẩu hiệu được đề ra: “Không cho kẻ thù tiếp viện lương thực, cho quân tướng Trường Xuân bị chết đói trong thành”.
Ban đầu Quốc dân đảng không cho phép người dân rời khỏi thành Trường Xuân, nhưng vì số lương thực trong thành chỉ còn dùng đủ đến cuối tháng Bảy, vì thế sau đó ông Tưởng Giới Thạch chấp nhận yêu cầu từ ngày 1/8 cho sơ tán dân chúng. Nhưng ĐCSTQ thực hiện biện pháp “giới nghiêm không cho dân chúng ra khỏi thành”. Sau ba tháng bao vây, ngày 9/9 Lâm Bưu cùng La Vinh Hoàn, Lưu Á Lâu, Đàm Chính cùng nhau báo cáo với Mao: “Bao vây đã thu được thành quả, trong thành đang thiếu lương thực nghiêm trọng… nhiều người dân phải ăn lá cây, cỏ xanh lót dạ, nhiều người chết đói”.
 
Học giả Homare Endo lúc 5 tuổi, bà may mắn sống sót trong đợt vây khốn Trường Xuân, năm 1953 bà theo người thân trở về Nhật Bản, hiện là giáo sư danh dự Đại học Tsukuba. Cả đời bà chưa thoát khỏi ám ảnh kiếp sống đói khát trong thời gian bị vây khốn tại Trường Xuân.
Ông Đoàn Khắc Văn (Duan Kewen), cựu lãnh đạo tỉnh Cát Lâm từng viết trong hồi ký tả cảnh một người lính của ĐCSTQ trông thấy nạn dân tiến lại gần đã quát: “Đồng hương, không được tiến lên, các người còn tiến lên chúng tôi sẽ nổ súng”. Nạn dân khẩn cầu: “Chúng tôi toàn người dân lương thiện, sao có thể nhẫn tâm ép chúng tôi chết đói tại đây?” Người lính kia đáp: “Đây là lệnh của Mao chủ tịch, chúng tôi không dám chống lệnh”. Một người liều mạng lao về trước, một tiếng súng “bằng” vang lên…
Ngày 24/10/1948, Nhật báo Trung ương Nam Kinh viết trong bài «Quá trình phòng thủ Trường Xuân» : “Theo tính toán thấp nhất, từ cuối tháng 6 – đầu tháng 10, tổng số hài cốt không dưới 150.000”. Con số người chết đói do phía chính quyền ĐCSTQ thừa nhận là 120.000 người, trong cuối hồi ký của Thị trưởng kiêm Giám đốc sở Dân chính Thượng Truyền Đạo (Shang Chuandao) cũng nhắc đến số liệu này.
Chính phủ Quốc dân đảng từng nhận định hành động bao vây Trường Xuân của ĐCSTQ đủ cấu thành tội ác chiến tranh.

Cải cách ruộng đất và đàn áp “phản cách mạng”

Tháng 3/1950, ĐCSTQ phát động «Chỉ thị trấn áp phần tử phản cách mạng», Mao Trạch Đông tuyên bố trong một văn bản “nhiều nơi sợ sệt không dám giương ngọn cờ giết bọn phản cách mạng”. Mao chỉ thị “giết phần tử phản cách mạng, ở nông thôn cần vượt qua tỉ lệ một phần ngàn dân số… ở thành thị nên ít hơn một phần ngàn”.
Một phần ngàn ở đây chính là chỉ tiêu giết người, nhưng trên thực tế số người bị giết hại cao hơn nhiều. Theo thống kê của ĐCSTQ, số phần tử “phản cách mạng” bị giết, cải tạo lao động hoặc quản chế vào khoảng 30 triệu người.
Theo tài liệu «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ sau khi kiến quốc» do Phòng nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương Trung Quốc biên soạn, trong kế hoạch đàn áp “phản cách mạng” từ đầu năm 1949 đến tháng 2/1952, số người bị đàn áp khoảng 15,8 triệu người, trong đó có khoảng 873.600 người bị tử hình.
Cùng với phong trào trấn áp “phản cách mạng” sôi sục là phong trào “cải cách ruộng đất”. Thực tế phong trào này tương tự như lý tưởng “có ruộng cùng cày” thời Thái Bình Thiên Quốc. Mục đích thực tế là mượn cớ giết người.
Thời cải cách ruộng đất thường tổ chức hội đấu tranh, lôi địa chủ và phú nông ra luận tội. Những kẻ luận tội là Đảng viên ĐCSTQ hoặc phần tử tích cực với Đảng, việc hành quyết thực thi khi kẻ đứng đầu hô to “nên giết!”
Mục đích của phong trào trấn áp phần tử “phản cách mạng” để củng cố chính quyền mới. Trong hình là các “địa chủ” bị thanh trừng vào năm 1951 (National Archives).
Quân lính ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” tại Phụ Khang – Tân Cương năm 1953 (National Archives)
Theo công bố của ĐCSTQ, đến cuối năm 1952, số “phần tử phản cách mạng” bị tiêu diệt là hơn 2,4 triệu người, thực tế tổng số quan chức Quốc dân đảng, nhà giáo và địa chủ bị bức hại lên đến hơn 5 triệu người.

Tam phản” và “ngũ phản”

Từ năm 1951 – 10/1952, ĐCSTQ triển khai phong trào “Tam phản” và “Ngũ phản”. “Tam phản” là phong trào “chống tham ô lãng phí” trong doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, “chống chủ nghĩa quan liêu”; “Ngũ phản” là phong trào “chống hối lộ, trốn thuế” đối với giới doanh nghiệp tư nhân, “chống ăn cắp tài sản quốc gia”“chống đánh cắp thông tin tình báo kinh tế quốc gia”.
Phong trào “Tam phản” để xử lý cán bộ ĐCSTQ hủ bại, nhưng rồi ĐCSTQ cho rằng cán bộ biến chất là do bị nhà tư bản dụ dỗ, hệ quả là sau đó đã thực hiện “Ngũ phản”. Thực tế “Ngũ phản” chính là cướp tiền của nhà tư bản, là giết người cướp của. Trong mục «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Cửu bình» có ghi: “Buổi tối mỗi ngày thị trưởng thành phố Thượng Hải ngồi trên ghế xô-pha bưng ly trà nghe báo cáo, hỏi câu hờ hững: Hôm nay có bao nhiêu lính nhảy dù?” Thực tế ý câu này là hỏi có bao nhiêu thương nhân nhảy lầu.
Theo số liệu trong «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ khi kiến quốc» xuất bản năm 1966, có hơn 323.000 người bị bắt trong phong trào “Tam phản Ngũ phản”, hơn 280 người tự sát hoặc mất tích; có hơn 5.000 người bị liên lụy và hơn 500 người bị bắt trong “phong trào chống Hồ Phong”, hơn 60 người tự sát, 12 người chết bất thường; sau đó trong phong trào “dẹp phản động” có khoảng 21.300 người bị phán tội tử hình, hơn 4.300 người tự sát và mất tích.
Phóng viên Nicholas Kristof của New York Times trú tại Bắc Kinh viết trong «Trung Quốc thức tỉnh» (China Wakes): “Theo báo cáo của cựu Bộ trưởng Công an La Thụy Khanh, từ 1948 – 1955 có bốn triệu người bị hành quyết”.

Thảm họa “Đại nhảy vọt”

Nhiều triệu người Trung Quốc đã chết bất thường trong thảm họa mất mùa vào cuối thập niên 50 – đầu 60 thế kỷ 20. Trong hình là cảnh người cha chôn người con bị chết đói.
Từ 1958 – 1962, Mao Trạch Đông thực hiện kế hoạch “Đại nhảy vọt”, cưỡng chế tập thể hóa nông nghiệp và chế độ nhà ăn tập thể đã làm số người chết đói la liệt khắp nơi. Theo con số do Cục trưởng Cục Thống kê Quốc gia Tiết Mộ Kiều (Xue Muqiao) đưa ra, số lương thực bị hao hụt do những nhà ăn tập thể khổng lồ này gây ra năm 1958 là 17,5 triệu tấn. Thực tế vụ mùa năm đó không phải quá tệ, nhưng chỉ sau nửa năm đã xảy ra nạn đói.
Hồ sơ giải mật của ĐCSTQ trong vài năm gần đây đã chính thức thừa nhận có 37,56 triệu người chết đói trong “Đại nhảy vọt”. Số liệu được giới học thuật trong và ngoài Trung Quốc thừa nhận là vào khoảng 37 – 43 triệu người chết đói. Chỉ riêng vùng Tín Dương tỉnh Hà Nam đã chết một triệu người, xảy ra hiện tượng người ăn thịt người, lịch sử gọi là “sự kiện Tín Dương”.
Mùa đông năm 1959 – mùa xuân 1960 là thời đỉnh cao của nạn người chết đói, nhưng năm 1959, ĐCSTQ lại xuất khẩu 4,15 triệu tấn lương thực. Số lương thực này nếu chia cho 30 triệu người thì mỗi được có được 138,6 cân, sẽ không ai bị chết đói. Năm 1960, ĐCSTQ còn xuất khẩu 2,7 triệu tấn lương thực.

Giết người điên cuồng trong  “Cách mạng Văn hóa”

Sau “Cách mạng Văn hóa”, tướng Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) từng nói: “Cách mạng Văn hóa” đã chỉnh đốn 100 triệu người, giết chết 20 triệu người. Theo tính toán của giáo sư R.J. Rummel thuộc Đại học Hawaii (Mỹ) trong tác phẩm «Thế kỷ sắt máu Trung Quốc» (China’s Bloody Century) xuất bản năm 1991, có khoảng 7,73 triệu người chết trong “Cách mạng Văn hóa”.
Trong sách «Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi xây dựng chính quyền» viết: Tháng 5/1984 ĐCSTQ thực hiện cuộc điều tra toàn diện kéo dài 2 năm 7 tháng và đưa ra con số thống kê mới về “Cách mạng Văn hóa”: 17,28 triệu người chết bất thường; 135.000 người bị hành quyết vì tội chống cách mạng; trong “Võ đấu” (1966 – 1969) giết chết 237.000 người, 70.300 người bị thương tật.
Làn sóng giết người đầu tiên vào năm 1966. Tháng Sáu năm đó, dưới chỉ thị “Quét sạch quỷ trâu thần rắn”, làn sóng càn quét của Hồng vệ binh từ Bắc Kinh nhanh chóng mở rộng trên toàn quốc nhằm tra khảo và giết “quỷ trâu thần rắn”.
Tháng 8/1966, Hồng vệ binh Bắc Kinh đã giết chết 1.772 người. Học giả Đinh Trữ (Ding Shu) bình luận: “Tại Trung Quốc đại lục chưa bao giờ có số người chết nhiều trong một thời gian ngắn như thế, chết vì những dụng cụ tra tấn kiểu cổ đại như côn và dây da. Những người bị giết bởi những kẻ mà họ không có thù oán gì, học sinh trung học mười mấy tuổi mang thầy hiệu trưởng, người hàng xóm ra tra tấn đến chết…”.
Trong sách «Tháng Tám khủng bố đỏ», học giả Vương Hữu Cầm (Wang Youqin) viết: “Nửa sau tháng 8/1966, hàng loạt người bị tra tấn chết không rõ danh tính cùng bị chất thành đống tiêu hủy. Hiệu trưởng Cao Vân (Gao Yun) và Bí thư Đỗ Quang (Du Guang) thuộc Đại học Sư phạm Bắc Kinh đều cùng bị đánh bất tỉnh và mang đi hỏa thiêu. Người làm việc tại nơi hỏa thiêu phát hiện họ chưa chết nên không thiêu. Họ lại trở về nhà. Vô số thi thể chất thành đống không thiêu kịp phải ướp băng, máu và nước trộn lẫn vào nhau”.
Ngày 26/1/1967 xảy ra sự kiện Thạch Hà Tử tại Tân Cương gióng phát súng đầu tiên trong đợt võ đấu trên toàn quốc mở ra làn sóng giết người thứ hai. Từ tháng 8/1967, đã nổ ra màn võ đấu quy mô lớn tại các địa bàn Thượng Hải, Nam Kinh, Trịnh Châu, Trường Xuân, Thẩm Dương, Trùng Khánh và Trường Sa, đến cuối năm 1968 mới tạm lắng xuống. Quân đội Vân Nam bao vây một tổ chức quần chúng có tên “đội Điền Tây” và dùng súng máy quét, sau 20 phút hàng ngàn người của tổ chức này thiệt mạng. Dự tính số người chết trong “võ đấu” khoảng 300.000 – 500.000 người.
«Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi kiến quốc» ghi lại có khoảng 237.000 người chết trong đợt võ đấu. Thực tế dự tính số người chết trong võ đấu khoảng 300.000 – 500.000 người.
Đợt “thanh trừng giai cấp” 1968 – 1969 là cao trào càn quét “quỷ trâu thần rắn” của Chủ tịch Mao Trạch Đông, cũng là thời kỳ có số người chết nhiều nhất trong “Cách mạng Văn hóa”. Theo tư liệu, trong hơn 2.000 huyện trên toàn quốc, bình quân mỗi huyện khoảng 100 người bị hành quyết.
Ngoài những người bị giết hại tàn nhẫn, thời đầu “Cách mạng Văn hóa” có khoảng 100.000 – 200.000 người vì không cam chịu bị làm nhục nên tự sát, con số người tự sát này hiếm thấy trong lịch sử thế giới. Nhà văn Ba Kim nhớ lại:
Mọi người đều sống như người điên, trông thấy một người nhảy từ trên lầu xuống cũng không chút cảm xúc mà trái lại còn phê bình, dùng những lời lẽ độc địa chửi người tự sát. Mao Trạch Đông từng nói với bác sĩ Lý Chí Tuy: “Tôi vui vì thấy thiên hạ đại loạn”.
Ngoài ra còn vô số người dũng cảm lên tiếng phê phán mà bị hại thân, bị bắn chết hoặc chết oan trong tù. Ông Thái Thiết Căn, Trưởng ban huấn luyện Học viện Quân sự cao cấp Nam Kinh bị phát hiện có ghi trong nhật ký những lời bất bình đối với tướng Bành Đức Hoài, thế là lập tức bị bắt. Ngày 11/3/1970, quân lính nhà tù đến mang ông trói lại rồi đọc lệnh bắt, sau đó đọc luôn lệnh hành hình mà không cho khiếu kiện. Giáo sư Hồng Ân (Hong En), chỉ huy đoàn nhạc giao hưởng Thượng Hải vì viết xấu về ông Mao Trạch Đông trong «Mao chủ tịch ngữ lục» cũng bị xử tử hình, trước khi đưa ra pháp trường cổ họng còn bị cắt đứt.

Thảm sát Thiên An Môn

Ngày 4/6/1989, ĐCSTQ đã đàn áp đẫm máu phong trào sinh viên đòi dân chủ kéo dài hơn 50 ngày gây chấn động thế giới. Đến nay, phong trào Thiên An Môn vẫn là một đề tài cấm kỵ của ĐCSTQ. Con số người thiệt mạng trong sự kiện này không được chính quyền Trung Quốc công bố, con số dự tính của các giới đưa ra không thống nhất.
Chiều ngày 3/6/1989, ĐCSTQ quyết định trấn áp, tuyên bố “bộ đội giới nghiêm có quyền dùng các biện pháp tự vệ”. Tối hôm đó, Giải phóng quân từ vùng ngoại thành tiến vào Bắc Kinh.

Sinh viên đưa bạn đi cấp cứu vì bị bộ đội bắn giết vào sáng ngày 4/6/1989.

Sau 10 giờ tối khi quân đội đột nhập vào Bắc Kinh đã bắt đầu bắt giết dân chúng, ban đầu các sinh viên tưởng quân đội chỉ dùng súng bắn đạn cao su và hơi cay, không ngờ quân đội lại dùng đạn thật.
Vương Quân Đào (Wang Juntao), người tổ chức phong trào sinh viên nói: “Tối ngày 3/6 tôi phát hiện có người dùng bạo lực đối với người dân rồi bỏ chạy, khi đến hiện trường tôi cảm giác có âm mưu gì đó, muốn điều tra, nhưng thấy mọi người dân bắt đầu nổi giận và dùng gạch đá ném vào quân lính, thế là quân lính bắt đầu nổ súng từ đường ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Họ đi đến đâu thì bắn đến đó, vô số người trúng đạn thiệt mạng…”
Vương Hữu Tài (Wang Youcai), một trong những người tổ chức phong trào nói: “Từ quan sát của cá nhân tôi, khi đó có nhóm sinh viên Đại học Bắc Kinh đã đi các bệnh viện điều tra, được biết khoảng hơn hai ngàn người thiệt mạng. Dĩ nhiên tôi không có khả năng chứng minh điều này, vì khi đó tôi đang bị bắt giam”.
Nhà văn Tào Trường Thanh (Cao Changqing) viết: “Trong «Trung Quốc thức tỉnh» có đề cập số người chết trong sự kiện đàn áp tại Thiên An Môn do một số bác sĩ cung cấp thông tin, theo đó số người chết khoảng 400 – 800, hàng ngàn người bị thương. Cho dù chỉ 400 người cũng vượt quá tổng số học sinh sinh viên kháng nghị bị chính quyền Trung Quốc giết chết trong cả thế kỷ 19. Sách cũng dẫn số liệu của Chính phủ Mỹ với khoảng 3.000 người bị thiệt mạng trong sự kiện này”.

Bức hại Pháp Luân Công

Tháng 7/1999, ĐCSTQ phát động đàn áp những người tập Pháp Luân Công, khởi đầu giai đoạn bức hại nhân quyền kéo dài gần 18 năm. Ông Giang Trạch Dân lợi dụng cỗ máy quyền lực nhà nước thực hiện chính sách tận diệt những người theo Pháp Luân Công.
Theo thống kê chưa hoàn chỉnh của trang mạng Minh Huệ của Pháp Luân Công cho đến ngày 17/2/2017, khoảng 4.075 người tập Pháp Luân Công bị hại chết, còn số người bị mổ cướp nội tạng còn ghê rợn hơn. Ngoài ra, còn có hàng triệu người bị bắt bớ, bị cưỡng bức lao động phi pháp. Trang Minh Huệ cũng nhận định, vì tình hình bức hại bị che giấu nên con số người bị hại thực tế còn khủng khiếp hơn nhiều.
Những người theo tập Pháp Luân Công bị hành hạ đến chết trong các trại giam, trại cưỡng bức lao động, nhà tù, các trung tâm tẩy não và bệnh viện tâm thần. Họ bị đủ hình thức tra tấn như bị đánh, điện giật, tiêm thuốc độc, cố định ghế hổ, hãm hiếp… khiến vô số người bị thương tật. Rất nhiều vụ thảm án đã lan truyền ra nước ngoài phơi bày tội ác của ĐCSTQ.
Ngày 23/6/2000, Washington Post đưa tin vụ thảm án của kỹ sư máy tính Trung Quốc đại lục Tô Cương (Su Gang, 32 tuổi) vì theo tập Pháp Luân Công. Ngày 25/4/2000, Tô Cương bị bắt vì đi Bắc Kinh khiếu kiện; ngày 23/5 Tô Cương bị ép vào bệnh viện tâm thần. Ông Tô Đức An, cha của Tô Cương nói, mỗi ngày hai lần họ tiêm cho Tô Cương thứ thuốc gì đó không rõ, sau một tuần thì Tô Cương không thể ăn uống và đi lại bình thường. Ngày 10/6, Tô Cương chết vì suy tim.  
 
Anh Trần Tương Duệ tại tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công 
Anh Trần Tương Duệ (Chen Xiangrui, 29 tuổi) người tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công. Ngày 11/3/2003, công an thành phố Hành Dương đã bắt anh Trần Tương Duệ về đồn và tra tấn điện, dùi cui sắt, gậy cao su, trong tình trạng lục phủ ngũ tạng thương tổn nghiêm trọng, Trần Tương Duệ qua đời vào sáng hôm sau.
Tháng 3/2006, nhân chứng Anne đã tiết lộ câu chuyện về tội ác mổ cướp nội tạng những người theo Pháp Luân Công trước giới truyền thông nước ngoài.  Sau đó, luật sư nhân quyền David Matas nổi tiếng quốc tế và cựu ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã được mời để tiến hành một cuộc điều tra độc lập. Tháng 7/2006 họ công bố báo cáo điều tra gồm 53 bằng chứng về tội ác mổ cướp nội tạng và khẳng định “đây là tội ác chưa từng có trên hành tinh này”.
Tối 30/10/2016, luật sư nhân quyền nổi tiếng David Matas và cựu Ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã tổ chức họp báo công bố chứng cứ mới về tội ác mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ.
Tổ chức Thế giới Điều tra đàn áp Pháp Luân Công” đã thực hiện điều tra hơn 10 năm và thu được nhiều chứng cứ (tài liệu và ghi âm) chứng minh: Ông Giang Trạch Dân đã dùng toàn bộ cỗ máy nhà nước kết hợp với thế lực xã hội đen tạo thành mạng lưới giết người cướp nội tạng kiếm lợi nhuận rộng khắp. Theo phân tích của tổ chức này, vì nhiều người sau khi bị giết đã bị thiêu hủy thi thể nên rất khó biết chính xác số người bị giết lấy nội tạng mang bán là bao nhiêu.
Tuyết Mai 
Tài liệu tham khảo:
  1. «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Chín bình luận về ĐCSTQ», Epochtimes xuất bản tháng 12/2004.
  2. «Năm 60 Trung Quốc đẫm máu: Ghi chép về tội ác giết người của ĐCSTQ» Tùng Lãm Trung Quốc (Chinainperspective) xuất bản tháng 9/2009.
  3. Lãnh Đào: «Mao Trạch Đông: Lông vũ cuối cùng của ‘hệ thống thăng bằng’ ĐCSTQ», Đài Phát thanh Quốc tế Hy Vọng ngày 17/1/2017.
  4. Đường Ngọc Vi (Tang Qiwei): «Kể bạn nghe về chân tướng sự kiện Thiên An Môn 1989», Đài Á châu Tự do ngày 3/6/2009.
  5. Xuyên Nhân (Chuan Ren) «Sự thật lịch sử về cuộc chiến bao vây Trường Xuân», Nhìn Trung Quốc, ngày 1/4/2012.
  6. Trương Chính Long (Zhang Zhenglong): «Tuyết trắng máu đỏ», Nhà xuất bản Thiên Địa Đồ Thư (Hồng Kông), năm 2002.
  7. Diệp Quan Tinh (Ye Guanqing): «Từ ba năm Đại nhảy vọt nhìn bộ mặt ma quỷ của ĐCSTQ», Epochtimes ngày 11/1/2016.

Lịch sử quân chủng Hải Quân VNCH

 

(Trích trong phần sưu tầm trong trang mạng của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng Hoa Thịnh Đốn)

Những nhà nghiên cứu hải sử có mặt tại khúc quanh lịch sử Việt Nam, ngày 30 Tháng Tư năm 1975, đều thừa nhận mặc dù đột ngột tan hàng, song Hải Quân VNCH đã thực hiện trọn vẹn sứ mạng của Tổ Quốc Việt Nam giao phó bảo vệ tự do cho dân tộc trong suốt quá trình ngăn chận làn sóng đỏ do Đảng cộng sản VN phát động thành một cuộc chiến nghiệt ngã huynh đệ tương tàn. Suốt quá trình 23 năm bảo vệ nước, căn cứ vào những mốc thời gian quan trọng thì thành quả đạt được của quân chủng có thể chia làm 3 giai đoạn; đặc biệt chú trọng đến sự lớn mạnh của Giang Lực và Duyên Lực:

  • Giai đoạn khó khăn hình thành
  • Giai đoạn chậm chạp phát triển
  • Giai đoạn nhanh chóng bành trướng

1. Giai đoạn khó khăn hình thành (1952-1957)

Ngày lịch sử đau buồn mùng 1 Tháng Chín năm 1858 cũng là ngày đánh dấu khởi điểm suy tàn của triều đại Nhà Nguyễn, khi Ðề Đốc (Hải Quân Thiếu tướng) Charles Rigault de Genouilly (1) chỉ huy 2,500 lính viễn chinh Pháp và 1,000 lính thuộc địa Tây Ban Nha với 14 chiến hạm vào cửa Đà Nẵng bắn chìm các chiến thuyền Việt Nam, chiếm các pháo đài bán đảo Sơn Trà rồi giao cho Hải Quân Ðại Tá Toyon trấn giữ. Ðến ngày 11 Tháng Hai năm 1859, De Genouilly lại dẫn các chiến hạm trên vô cửa Cần Giờ đánh tan các chiến thuyền và đồn bót do Ðề Ðốc Trần Trí đang tổ chức phòng thủ tại vịnh Gành Rái. Thừa thắng tiến lên thượng nguồn, ngày 18 tháng 2 năm 1859, quân Pháp lại tấn công đổ bộ qui mô từ bờ sông vào thành Gia Ðịnh. Thành vỡ, Án Sát Lê Tứ và Hộ Ðốc Vũ Duy Ninh đều tuẫn tiết. Còn lại Ðề Ðốc Trần Trí, Bố Chánh Vũ Trực cùng Lãnh Binh Tôn Thất Năng rút tàn quân về cố thủ huyện Bình Long.

Vào giữa thế kỷ thứ 19, hạm đội Pháp được các sử gia Tây phương đánh giá là hạm đội tối tân nhất trong các cường quốc Hải Quân Châu Âu đang săn tìm thuộc địa. Các chiến thuyền lỗi thời của thủy quân Triều Nguyễn hành thủy từ những năm vua Gia Long phục quốc thống nhất sơn hà 1802, nên không đủ khả năng đương cự lại.

Qua hai trận thủy chiến mà tương quan kỹ thuật tác chiến quá chênh lệch như vậy thành ra quân ta thất trận hoàn toàn và thủy quân triều Nguyễn coi như thật sự bị xóa sổ từ đây, dù rằng dưới triều vua Tự Ðức việc huấn luyện thủy quân rất được chú trọng đến.

Giở lại những trang quân sử thành lập Quân Lực VNCH (2), nếu gác bỏ ra ngoài những tai tiếng không tốt mà đối phương đã tuyên truyền về nếp sống xa hoa của cựu hoàng Bảo Ðại lưu vong, người đọc sẽ thông cảm được quyết tâm cao tạo dựng một quốc gia Việt Nam (QGVN) độc lập, qua quyển CON RỒNG VIỆT NAM, của vị vua cuối cùng triều đại nhà Nguyễn.

Trải qua nhiều giai đoạn thương thuyết rất cam go với chính quyền thực dân Pháp, cựu hoàng Bảo Ðại hết sức kiên nhẫn với tập đoàn thống trị để họ chấp nhận một nước Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp được hình thành.

Ngày mùng 5 Tháng Sáu năm 1948, hiệp định sơ bộ Vịnh Hạ Long (dẫn đến hiệp định Elysée sau này) ký kết giữa Toàn Quyền Ðông Dương Emile Bollaert và Thủ Tướng lâm thời Nguyễn Văn Xuân có cựu hoàng phó thư (countersign) trên chiến hạm Duguay Trouin thừa nhận nguyên tắc độc lập và thống nhất của nước Việt Nam với Quốc kỳ: Cờ màu vàng 3 sọc đỏ và Quốc ca: Thanh Niên Hành Khúc của Lưu Hữu Phước. (3).

Nhưng rồi Quốc Hội Pháp cứ làm ngơ, viện cớ chưa tìm được qui chế thích hợp cho Nam Kỳ, mãi đến ngày 8 Tháng Ba năm 1949 mới thuận cho Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Ðại chính thức ký hiệp định Elysée chấp nhận nước Việt Nam độc lập trong khối Liên hiệp Pháp có tổ chức hành chánh riêng, tài chánh riêng, tư pháp riêng, quân đội riêng và Pháp sẽ ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc (4).

Như vậy, cực chẳng đã chính phủ Pháp đành phải trao trả nền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho vị nguyên thủ của nước Việt Nam là Quốc trưởng Bảo Ðại. Dĩ nhiên hiệp định này đi ngược lại quyền lợi của nước Pháp, vì thực dân Pháp chỉ muốn cai trị nước ta như trước kia mà thôi.

Thực thi Hiệp Định Elysée, thỏa ước quân sự Pháp-Việt ngày 30 Tháng Mười Hai năm 1949 về Hải Quân lại bị trì trệ kéo dài đến giữa năm 1951, Ðô Ðốc Ortoli, tư lệnh Hải Quân Pháp ở Viễn Ðông mới được lệnh lập kế hoạch huấn luyện quân sự để chuyển giao đầu tiên 2 Hải Ðoàn Xung Phong cho Hải Quân Việt Nam. Chương trình chuyển giao các Trục lôi hạm (YMS), Giang pháo hạm (LSIL). Trợ chiến hạm (LSSL)… sẽ tiến hành vào những năm kế tiếp. Nhưng khi nắm quyền tổng chỉ huy hành chánh lẫn quân sự tại Ðông Dương, Thống Tướng Jean de Lattre de Tassigny (5) muốn Hải Quân Việt Nam hoàn toàn thống thuộc mọi mặt vào lục quân Pháp, chứ không phải là một quân chủng riêng như Ðô Ðốc Ortoli đã đề nghị. Viên tướng 5 sao này cho rằng một quân chủng kỹ thuật như Hải Quân không thể nào đứng vững được vì thiếu cán bộ và chiến cụ.

Ngày 15 Tháng Tám năm 1951, Pháp đồng ý cho tuyển mộ khóa 1 Sĩ quan Hải Quân gồm 9 sinh viên – 6 theo ngành chỉ huy và 3 theo ngành cơ khí – phần đông là cựu sinh viên trường Thủy Văn Sài Gòn (Saigon Hydrography School); khóa hạ sĩ quan có 50 và đoàn viên là 300.

Còn về phía Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam, dù bị chèn ép mọi mặt, Quốc Trưởng Bảo Ðại vẫn kiên trì tranh thủ xây dựng nền tảng bắt đầu từ con số không cho Quân Ðội Quốc Gia.

Kể từ sau ngày 24 Tháng Tám năm 1945 bị Hồ Chí Minh ép buộc thoái vị phải trao kiếm vàng cùng ấn ngọc cho đại diện Việt Minh Cộng Sản là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận tại Ngọ Môn Huế, cựu hoàng hết sức thấm thía về việc hoàng triều không có một quân đội đủ mạnh để dẹp bỏ Việt Minh Cộng Sản trước rồi sau đó đẩy lui Phú-Lang-Sa và bảo vệ chủ quyền quốc gia trường tồn. Cho nên trong thông điệp ngày 15 Tháng Năm năm 1948 gửi cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, cựu hoàng tán thành đề nghị thành lập Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời và giao cho Quốc Vụ Khanh kiêm Tổng trấn Trung phần (sau này đổi tên là Thủ hiến Trung Việt) Phan Văn Giáo (6) trọng trách xây dựng một Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam gồm đủ cả Hải, Lục và Không Quân. Cho đến năm 1949, Tổng Trấn Trung Phần Phan Văn Giáo đã thành công trong công tác tuyển mộ và huấn luyện cho tổ chức Việt Binh Ðoàn tại Huế. Sau Hiệp Định Elysée, lần lượt Vệ Binh Nam Phần và Bảo Chính Ðoàn Bắc Phần cũng được thành lập vào giữa năm 1950. Chính những đơn vị này là hạt nhân cơ bản cho tổ chức quân đội chính qui QGVN (The Vietnamese National Army) ra đời ngày 30 Tháng Giêng năm 1951 (Dụ số 1 0D/VOP/DQT/TS) kèm theo 2 sắc lệnh cùng ngày (7).

Sinh sau đẻ muộn hơn 2 quân chủng Lục và Không Quân vì nghị định thành lập Hải Quân bị đình hoãn nhiều lần. Nhưng rồi do nhu cầu chiến cuộc, dụ số 2 đã cho phép Hải Quân ra đời ngày 6 Tháng Ba năm 1952, hồi tố đến ngày 1 Tháng Giêng năm 1952. Vào thời điểm này, muốn thành lập một quân chủng kỹ thuật như Hải Quân mà không có một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp giỏi, không có các phương tiện huấn luyện nhân sự quả là một điều không tưởng. Không còn cách nào tốt hơn để đốt giai đoạn, ngoại trừ chính phủ QGVN dựa vào những cơ sở huấn luyện có sẵn của Hải Quân Pháp để đào tạo nhân viên tân tuyển của mình.

Cho nên trong khoảng thời gian từ năm 1951 đến năm 1953, hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và đoàn viên tiên khởi của Hải Quân Việt Nam phải theo thực tập (On the job training) trên các chiến hạm, chiến đỉnh của Hải Quân Pháp đang hoạt động ngoài biển cũng như trong sông.

Có thể nói những người tình nguyện gia nhập vào hàng ngũ Hải Quân Việt Nam trong hoàn cảnh quá khó khăn như vậy là những thanh niên quyết tâm bảo vệ quốc gia và ôm ấp mộng hải hồ. Với tinh thần yêu nước cao độ, nhẫn nhịn chịu đựng tập luyện vượt qua nhiều giai đoạn cực khổ, cuối cùng họ đã chứng tỏ được khả năng hoàn hảo về kỹ thuật, hành thủy và tác chiến để xứng đáng nhận lãnh đầu tiên 2 Hải Ðoàn Xung Phong Cần Thơ và Vĩnh Long vào giữa năm 1953 (8). Thái độ đối xử hòa nhã cùng nhiệt tình làm việc của tân thủy thủ đoàn Việt Nam khiến cho một số sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp quên đi nỗi bất bình về lá cờ màu vàng 3 sọc đỏ đang phất phới bay trên các chiến đỉnh của họ mà họ còn nán lại phục vụ trong những ngày chót trước khi lên đường về nước.

Giờ đây, Hải Quân Việt Nam là một thực thể trong ước mơ của những chàng trai trẻ ham ra khơi, thíchlướt sóng; nhất là viễn dương xuất ngoại du học. Họ đã tạo được niềm tin vững mạnh cho Thủ tướng Ngô Ðình Diệm ban nghị định ngày 20 Tháng Tám năm 1955 thành lập Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ) và chính thức bổ nhiệm HQ/Thiếu Tá Lê Quang Mỹ vào chức vụ tư lệnh Hải Quân kiêm chỉ huy trưởng đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Riêng Hải Ðoàn 2 Xung Phong (Dinassault N0 2) được Tướng De Lattre ra lệnh thành lập từ đầu Tháng Hai năm 1951 theo nhu cầu cuộc chiến tại miền Trung châu Bắc việt vẫn trực thuộc Bộ Chỉ Huy Giang Lực của Pháp (COFFLUSIC) và sát nhập vào Hải Ðoàn 21 Xung Phong đầu năm 1955 khi vào Nam (9).

Ngày 16 Tháng Sáu năm 1954, chí sĩ Ngô Ðình Diệm về nước thành lập Chính Phủ do sự ủy nhiệm của Quốc Trưởng Bảo Ðại bằng sắc lệnh số 38/QT. Bởi những thế lực riêng biệt do quân đội Pháp cố tình tạo ra trước khi rút về nước theo hiệp định Genève ngày 21 Tháng Bảy năm 1954, quân đội QGVN bị chia rẽ thật trầm trọng. Theo Ðoàn Thêm trong tài liệu đã dẫn, ngày 21 Tháng Ba năm 1955, trên hệ thống đài phát thanh Pháp-Á cũng như đài phát thanh Quốc Gia Sài Gòn, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm đã phải cương quyết tuyên bố:

“Phải thống nhất quân đội, không có lực lượng riêng biệt; phải thống nhất hành chánh, không có địa phương tự trị; phải thống nhất tài chánh, không thể thâu những sắc thuế do địa phương tự động đặt ra.”

Ngoại trừ quân đội Cao Ðài thực tâm qui thuận Chính phủ, ngày 28 Tháng Ba năm 1955, Thủ Tướng Diệm ra lệnh cho quân đội QGVN tấn công loại bỏ quân đội Bình Xuyên và ngày 5 Tháng Sáu năm 1955 loại trừ luôn quân đội Hòa Hảo.

Báo chí trong nước, ngoài nước thời đó đều ca ngợi tài lãnh đạo anh minh của Thủ Tướng Diệm; vì chỉ trong vòng một năm thôi mà ông đã gom được quân đội về một mối, chấm dứt nạn “Sứ quân thời thượng.” Thắng lợi này cũng dọn đường cho cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 Tháng Mười năm 1955 truất phế Bảo Ðại và suy tôn Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm lên chức vụ Quốc Trưởng. Chủ Tịch Thượng Viện Hoa Kỳ Lyndon Baines Johnson cũng cổ vũ Tổng Thống Diệm là Churchill của thập niên… người lãnh đạo tiền phong cho nền tự do ở Ðông Nam Á…(10).

Dụ số 2 ấn định ngày 26 Tháng Mười năm 1955 là ngày Quốc Khánh của nền Ðệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa và Quốc trưởng lấy danh hiệu là Tổng Thống VNCH. Quân Ðội QGVN trở thành Quân lực VNCH (The Republic of Vietnam Armed Forces = RVNAF).

Ðến cuối năm 1955, Hải Quân thuần túy Việt Nam có 3,858 người kể cả 1,291 Thủy Quân Lục Chiến với Tiểu đoàn 1 Quái Ðiểu và Tiểu đoàn 2 Trâu Ðiên.

Ðầu năm 1956, tổng thống VNCH chấp thuận dự án Giang Lực dự trù thành lập 5 Hải Đoàn Xung Phong, mỗi hải đoàn sẽ được trang bị:

  • 05 Trung vận đỉnh LCM6 (Landing craft Mechanized)
  • 04 Tiểu vận đỉnh LCVP (Landing craft vehicle and personnel)
  • 05 Hô-bo vận tốc nhanh (Hors bord)
  • 02 Quân vận hạm LCU (Landing craft utility)
  • 02 Tàu kéo quân cảng YTL (harbor craft)
  • 01 Giang pháo hạm LSIL (Landing ship infantry large) tăng phái.

Ðó là các Hải Ðoàn 21 Xung Phong (hậu cứ tại Mỹ Tho), Hải Ðoàn 23 Xung Phong (hậu cứ tại Vĩnh Long), Hải Ðoàn 24 Xung Phong (hậu cứ tại Cát Lái), Hải Ðoàn 25 Xung Phong (hậu cứ tại Cần Thơ) và Hải Ðoàn 26 Xung Phong (hậu cứ tại Long Xuyên).

Riêng về Hải Lực, đến cuối năm 1957, số chiến hạm được Pháp chuyển giao lên 21 chiếc gồm:

  • 05 Hộ tống hạm PC (Patrol Craft or submarine chaser) là:

HQ01 – Chi Lăng
HQ02 – Vạn Kiếp
HQ03 – Ðống Ða
HQ04 – Tuy Ðộng
HQ05 – Tây Kết

  • 03 Trục lôi hạm YMS (Yard MineSweeper) là:

HQ111 – Hàm Tử
HQ112 – Chương Dương
HQ113 – Bạch Ðằng.

  • 02 Trợ chiến hạm LSSL (Landing Ship Support Large) là:

HQ225 – Nỏ Thần (Nguyễn Văn Trụ)
HQ226 – Linh Kiếm (Lê Trọng Ðàm).

  • 05 Giang Pháo Hạm LSIL (Landing Ship Infantry Large) là:

HQ327 – Long Ðao
HQ328 – Thần Tiễn
HQ329 – Thiên Kích
HQ330 – Lôi Công
HQ331 – Tấm Sét.

  • 04 Hải Vận Hạm LSM (Landing Ship Medium) là:

HQ400 – Hát Giang
HQ401 – Hàn Giang
HQ402 – Lam Giang
HQ403 – Ninh Giang

  • 01 Hỏa vận hạm YOG (Oiler) là:

HQ470.

  • 01 Huấn luyện hạm AKL (Loại tàu vận chuyển) là:

HQ451 – Quá Giang

2. Giai đoạn chậm phát triển (1958-1967)

Năm 1958 được chọn làm mốc thời gian vì những sự kiện quan trọng sau đây:

Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang được Pháp chuyển giao toàn bộ lại cho Hải Quân Việt Nam.

Hải Quân Việt Nam tăng lên 5,000 người

Khóa 8 Sĩ qian Nha Trang (Ðệ I Hổ Cáp) có 50 sinh viên nhập học với giáo sư, giảng viên và huấn luyện viên hoàn toàn là người Việt Nam.

Quân số Giang Lực gia tăng 50% cho 5 Hải Ðoàn Xung Phong trang bị 96 chiến đĩnh đủ loại.

Ðầu năm 1960, Bộ Tư Lệnh Hải Quân phúc trình đặc biệt lên Bộ Tổng Tham Mưu về Tiểu đoàn 603 Việt Cộng tức Tập Ðoàn Ðánh Cá Sông Gianh đã lén lút xâm nhập vào Duyên khu Đà Nẵng. Tổng Thống Diệm chấp thuận thành lập ngay 4 Ðội Hải Thuyền đầu tiên: Ðội 11 Cửa Việt, Ðội 12 Cửa Thuận An, Ðội 13 Cửa Tư Hiền, Ðội 14 Cửa Hội An. HQ/Ðại Úy Nguyễn Văn Thông (khóa 3 Sĩ Quan Nha Trang) chỉ huy huấn luyện 400 tuần viên sơ khởi cho 80 ghe đủ loại.

Năm 1962, Hải Ðoàn 22 Xung Phong được thành lập, HQ/Ðại Úy Huỳnh Duy Thiệp (khóa 7 Sĩ quan Nha Trang) là chỉ huy trưởng đầu tiên.

Ðến cuối năm này, lực lượng Hải Thuyền tăng lên 28 đội đóng dọc theo duyên hải với 800 tuần viên, rồi được cải danh thành Duyên Ðoàn khi quân số tăng lên đến 4,000 người.

Ðến đầu năm 1963, HQ/Ðại Tá Hồ Tấn Quyền, tư lệnh Hải Quân mở cuộc hành quân thủy bộ bình định Năm Căn: Chiến dịch Sóng Tình Thương

Bước ngoặt chính trị năm 1963:

Ðược sự ủng hộ của Ðại Sứ Mỹ Henry Cabot Lodge (vua tổ chức đảo chánh), các tướng lãnh Việt Nam đã làm cuộc đảo chánh ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963 giết chết Tổng Thống Diệm và chấm dứt nền Ðệ I VNCH (11). Trong cuộc chính biến này, HQ/Ðại Tá Hồ Tấn Quyền, tư lệnh Hải Quân cũng bị một sĩ quan đàn em chối bỏ truyền thống quân chủng ám sát chết (12).

Vì không còn lãnh tụ nào sáng giá hơn ông Diệm, nên tình hình chính trị miền Nam trở nên bất ổn. Quân đội phân hóa, đảo chánh liên miên, sinh viên học sinh biểu tình hàng ngày. Lợi dụng tình trạng rối ren tại thành phố và hoang phế 7,000 ấp chiến lươc tại nông thôn, Việt Cộng gia tăng cường độ ám sát khủng bố và bắt đầu tổ chức đánh lớn cấp trung đoàn. Cuối năm này, Hải Quân mất luôn quyền chỉ huy Liên Đoàn Thủy Quân Lục Chiến khi binh chủng thống thuộc này trở thành lữ đoàn tổng trừ bị do Trung Tá Lê Nguyên Khang làm tư lệnh và bị áp đặt trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu về mọi mặt giống như binh chủng Nhảy Dù của Không Quân.

Ðến hết năm 1964, Hải Quân cũng chưa thoát khỏi quỹ đạo lục đục trên đây, các sĩ quan khóa 2 Nha Trang gồm HQ/Trung Tá Nghiêm Văn Phú, chỉ huy trưởng Hải lực; HQ/Trung Tá Ðỗ Quý Hợp, chỉ huy trưởng Giang Lực; HQ/Trung Tá Khương Hữu Bá, chỉ huy trưởng Duyên Lực; HQ/Trung Tá Ðặng Cao Thăng, (khóa 1 Brest), giám đốc Hải Quân Công Xưởng đồng lòng lật đổ Phó Ðề Ðốc Chung Tấn Cang, tư lệnh Hải Quân về vụ thủy cước.

Sau ngày 8 Tháng Ba năm 1965, quân đội Hoa Kỳ đổ bộ lên hải cảng Đà Nẵng, Hải Quân có 7 Hải Ðoàn Xung Phong. Với bảng cấp số (SOP) mới 1965, Hải Ðoàn Xung Phong được cải danh là Giang Ðoàn Xung Phong (River Assault Group = RAG) có quân số 150 người. Sáu trong bảy Giang đoàn loại này được trang bị:

  • 01 Giang đỉnh chỉ huy (Commandement Monitor)
  • 01 Chiến đấu đỉnh (Combat Monitor)
  • 05 Trung vận đỉnh LCM6
  • 06 Tiểu vận đỉnh LCVP
  • 06 Xung kích đỉnh STCAN or FOM.

Riêng Giang đoàn 27 Xung Phong trang bị hơi khác biệt với 6 Giang đoàn kia: 01 Giang đỉnh chỉ huy + 01 Chiến đấu đỉnh + 06 Quân vận đỉnh LCM8 và 10 Tiểu đỉnh RPC (River Patrol Craft) (13). Quân số Giang lực lúc bấy giờ tăng thành 1,150 người kể cả Bộ Chỉ huy Giang lực và 3 Ban Chỉ Huy hành chánh Liên Giang Đoàn (type).

Ngày 19 Tháng Sáu năm 1965 được gọi là Ngày Quân Lực do sắc lệnh của Chủ tịch Ủy ban Hành Pháp Trung ương (tương đương với thủ tướng chính phủ) Nguyễn Cao Kỳ ban hành để chấm dứt thời kỳ khủng hoảng chính trị kéo dài. (14).

Gần cuối năm, lực lượng Hải Thuyền 4,000 người được sáp nhập vào Hải Quân. Tuần viên cải danh thành đoàn viên kèm theo cấp số chính thức cho mỗi duyên đoàn là 03 ghe chủ lực, 03 ghe di cư và 16 ghe chèo.

Trong 7 năm đầu, Hải Quân tiến triển chậm chạp nhưng trong 3 năm sau, Hải Lực đã nhận thêm một số chiến hạm đáng kể:

  • 03 Trục lôi hạm MSC (Mine Sweeper Craft) là:

HQ114 – Hàm Tử II
HQ115 – Chương Dương II
HQ116 – Bạch Ðằng II.

  • 01 Hộ tống hạm PC là:

HQ06 – Vân Ðồn.

  • 02 Hộ tống hạm PCE (Patrol Craft Escort) là:

HQ07 – Ðống Ða
HQ12 – Ngọc Hồi

  • 04 Hộ tống hạm MSF (Mine Sweeper Fleet) là:

HQ08 – Chi Lăng II
HQ09 – Kỳ Hòa
HQ10 – Nhựt Tảo
HQ11 – Chí Linh.

  • 03 Hải vận hạm LSM (Landing Ship Medium) là:

HQ404 – Hương Giang
HQ405 – Tiền Giang
HQ406 – Hậu Giang.

  • 03 Dương vận hạm LST (Landing Ship Tank) là:

HQ500 – Cam Ranh
HQ501 – Đà Nẵng
HQ502 – Thị Nại.

  • 20 Tuần duyên hạm PGM (Patrol Gunboat) là:

HQ600 – Phú Dự
HQ601 – Tiên Mới
HQ602 – Minh Hòa
HQ603 – Kiến Vàng
HQ604 – Keo Ngựa
HQ605 – Kim Quy
HQ606 – May Rút
HQ607 – Nam Du
HQ608 – Hoa Lư
HQ609 – Tổ Yến
HQ610 – Ðịnh Hải
HQ611 – Trường Sa
HQ612 – Thái Bình
HQ613 – Thị Tứ
HQ614 – Song Tử
HQ615 – Tây Sa
HQ616 – Hoàng Sa
HQ617 – Phú Quý
HQ618 – Hòn Trọc
HQ619 – Thổ Châu.

  • 02 Hỏa Vận Hạm YOG là:

HQ471
HQ472.

  • 05 Trợ chiến hạm LSSL là:

HQ227 – Lê Văn Bình
HQ228 – Ðoàn Ngọc Tảng
HQ229 – Lưu Phú Thọ
HQ230 – Nguyễn Ngọc Long
HQ231 – Nguyễn Ðức Bổng

Như vậy, vào cuối năm 1967, Hải Lực có tổng số chiến hạm là 64 chiếc.

3. Giai đoạn nhanh chóng bành trướng (1968-1975)

Ðầu năm 1968, Việt Cộng mở cuộc Tổng Nổi Dậy, công kích trên toàn lãnh thổ VNCH; Hải Quân với quân số 30,000, kể cả 7,500 sĩ quan, không những bảo toàn được lực lượng đông đảo như vậy mà còn yểm trợ hữu hiệu cho các đơn vị bạn tái chiếm nhiều vị trí bị lọt vào tay địch trong những ngày Tết Mậu Thân.

Cũng trong năm này, 3 trung tâm huấn luyện được phân nhiệm rõ rệt: Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang đào tạo sĩ quan, Trung Tâm Huấn Luyện Cam Ranh dành cho hạ sĩ quan và đoàn viên, Trung Tâm Huấn Luyện Bổ Túc Sài Gòn trau dồi thêm kiến thức chuyên môn cho các cấp.

Ðến năm 1969, để theo kịp chương trình “Việt Nam hóa chiến tranh” (Accelerated turnover to the Vietnamese = ACTOV), Bộ Tư Lệnh Hải Quân tổ chức Hành Quân Lưu Ðộng Biển và Hành Quân Lưu Ðộng Sông. Trong tổ chức Hành Quân Lưu Ðộng Sông, 3 Lực lượng tác chiến trong sông được thành lập:

  • Lực lượng Thủy Bộ, tổ chức hành chánh (type) đóng tại Bình Thủy, khi trở thành Ðặc Nhiệm (Task) gọi là Lực Lượng Ðặc Nhiệm 211.
  • Lực Lượng Tuần Thám, tổ chức hành chánh đóng tại Mỹ Tho, khi trở thành Ðặc Nhiệm gọi là Lực Lượng Ðặc Nhiệm 212.
  • Lực Lượng Trung Ương, tổ chức hành chánh đóng tại Ðồng Tâm, khi trở thành Ðặc Nhiệm gọi là Lực Lượng Ðặc Nhiệm 214.

Tư lệnh Hải Quân vùng IV Sông Ngòi kiêm tư lệnh Hạm Ðội Ðặc Nhiệm 21 khi chỉ huy cả 3 lực lượng trên cùng 7 Giang Ðoàn Xung Phong và các cơ sở tiếp vận trong vùng châu thổ [Sông] Cửu Long, quân số lên đến 10,500 người. Tư lệnh vùng III Sông Ngòi có 5 Giang đoàn Xung Phong cơ hữu, cũng được sự tăng phái của các lực lượng đặc nhiệm 211, 212 và 214. (15)

Hoàn tất chương trình ACTOV năm 1972, Hành Quân Lưu Động Biển đã nhận thêm 20 chiến hạm:

  • 04 Dương Vận Hạm LST là:

HQ503 – Vũng Tàu
HQ504 – Qui Nhơn
HQ505 – Nha Trang
HQ800 – Mỹ Tho

  • 02 Cơ Xưởng Hạm LST là:

HQ801 – Cần Thơ
HQ802 – Vĩnh Long

  • 01 Hộ Tống Hạm MSF là:

HQ13 – Hà Hồi

  • 01 Hộ tống hạm PCE là:

HQ14 – Vạn Kiếp.

  • 03 Hỏa Vận Hạm YOG là:

HQ472
HQ473
HQ475.

  • 02 Khu trục hạm tiền thám DER (Destroyer Radar Picket Escort) là:

HQ1 – Trần Hưng Ðạo
HQ4 – Trần Khánh Dư

  • 07 Tuần dương hạm WHEC (White High Endurance Cutter) là:

HQ2 – Trần Quang Khải
HQ3 – Trần Nhật Duật
HQ5 – Trần Bình Trọng
HQ6 – Trần Quốc Toản
HQ15 – Phạm Ngũ Lão
HQ16 – Lý Thường Kiệt
HQ17 – Ngô Quyền

  • 05 Hải đội Duyên Phòng được chuyển giao 26 Tuần duyên đỉnh WPB (Coastal Patrol Boat) đánh số từ HQ700 đến HQ725 và HQ107 Duyên tốc đỉnh PCF (Patrol Craft Fast).

Cuối năm 1972, quân số Hải Quân VNCH tăng thành 41,000 người. Theo Jane’s Fighting Ships 1972-1973, HQ/Ðại tá John More xếp sự lớn mạnh của lực lượng Hải Quân VNCH vào hàng thứ 9 trong các cường quốc Hải Quân trên thế giới.

Ðầu năm 1975, lực lượng Hải Quân VNCH gồm:

  • 05 vùng Duyên hải với 133 chiến đỉnh và 500 ghe đủ loại
  • 02 vùng Sông ngòi và 03 lực lượng tác chiến trong sông với trên 950 chiến đỉnh đủ loại
  • Hạm đội Biển với 84 chiến hạm
  • Quân số: 43,000 người.

Giữa Tháng Tư năm 1975, ngay sau khi trở lại nhậm chức tư lệnh Hải Quân lần thứ hai, Phó Ðô Đốc Chung Tấn Cang chỉ định HQ/Ðại Tá Lê Hữu Dõng thành lập cấp tốc Lực Lượng Ðặc Nhiệm 99 với sự phối hợp của các Giang đoàn 22 Xung Phong, Giang đoàn 42 Ngăn Chặn và Giang Ðoàn 59 Tuần Thám gồm khoảng 50 chiến đỉnh để giải tỏa áp lực địch trong phạm vi trách nhiệm của Hải Quân.


Chú thích:

(1) Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược. Sài Gòn thư xã 1962. Chương 7: Nước Pháp lấy đất Nam Kỳ (từ trang 480 đến trang 492).

Nguyễn Hợp Minh. Lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam. Melbourne 2000. Tập 6, trang 285 288.

Ðúc kết tóm lược: Sau khi ký hiệp ước Thiên Tân ngày 27 Tháng Sáu năm 1858 với Trung Hoa, Chính Phủ thực dân Pháp chỉ định Ðề đốc Rigault de Genouilly điều động 13 chiến hạm Pháp và 01 chiến hạm Tây Ban Nha do HQ/Ðại tá Lanzarote làm Hạm trưởng, kéo sang xâm lược Việt Nam. De Genouilly được phong chức Phó Thủy sư Ðô đốc, Tổng chỉ huy Lực lượng Thực dân Viễn chinh tại nước ta từ ngày 1 Tháng Chín năm 1858 đến ngày 1 Tháng Mười Một năm 1859.

(2) Bộ Tổng tham mưu phòng 5. Quân sử tập 4: Quân lực hình thành 1946-1955. Sài Gòn 1972.

(3) Ðoàn Thêm. Hai mươi năm qua, việc từng ngày. Sài Gòn 1966, trang 44-45.

(4) Ðoàn Thêm. Tài liệu đã dẫn, trang 52.

(5) Ðoàn Thêm ghi nhận trang 82, tài liệu đã dẫn: Từ nay, quân đội VN thuộc hẳn quyền Quốc Trưởng Bảo Ðại, nhưng có cơ quan liên lạc với quân đội Liên Hiệp Pháp.

Cũng ngày hôm đó, Thống Tướng 5 sao Jean de Lattre de Tassigny, được Chính Phủ Pháp cử sang làm Tổng Tư Lệnh Quân Ðội kiêm Cao Ủy Pháp tại Ðông Dương.

(6) Trung Tướng Tôn Thất Ðính. Hồi ký 20 năm binh nghiệp. CA Chánh đạo 1988, trang 29-30.

Ðoàn Thêm. Tài liệu đã dẫn, trang 44, 57, 69 và 112.

Ðúc kết tóm lược: Ông Phan Văn Giáo, một nhân vật thân tín của Cựu Hoàng Bảo Ðại, tuy không tốt nghiệp một trường võ bị nào nhưng có khả năng rất cao về tổ chức quân đội, giúp Quân Ðội VNCH sớm hình thành. Qua nhiều chính phủ từ Nguyễn Văn Xuân đến Nguyễn Văn Tâm, ông đã được giao phó nhiều chức vụ thật quan trọng:

Ngày 2 Tháng Sáu năm 1948: Quốc vụ khanh, tổng trưởng kiêm tổng trấn Trung Phần, đặc trách thành lập Việt Binh Ðoàn.

Ngày 3 Tháng Bảy năm 1949: Thủ hiến Trung Việt bành trướng Việt Binh Ðoàn thành Quân Ðội QGVN.

Ngày 4 Tháng Tư năm 1950: Tổng thanh tra Quân Đội QGVN với cấp bậc trung tướng giả định (être assimilé au grade de Général), trực thuộc quốc trưởng (Sắc lệnh số 31/QT).

Ngày 25 Tháng Sáu năm 1952: Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng thông tin.

(7) Ðoàn Thêm. Tài liệu đã dẫn, trang 86.

(8) Hải Đoàn Xung Phong, Hải Quân Pháp gọi là DINASSAUT (Division Naval d’assault), xin xem phần quan niệm về tổ chức Dinassault trong tập này, trang… Lúc Pháp chuyển giao, các Hải đoàn chưa có số nên tạm thời lấy tên địa phương đồn trú. Hải Đoàn Xung Phong Cần Thơ và Vĩnh Long, mỗi đơn vị nhận:

01 Giang đỉnh chỉ huy (Commandement Monitor LCM6)

02 Trung vận đỉnh LCM6 (Landing craft Mechanized)

02 Tiểu vận đỉnh LCVP (Landingcraft Vehicle and Personnel).

(9) HQ/Trung Tá Vũ Hữu San. Lược sử tổ chức Hải Quân VNCH. Tài liệu chuyển cho Hội Ðồng Hải Sử 2000, trang 4-6.

(10) Karnow, Stanley. Viuetnam a story. Viking London 1991, trang 222 ghi lại nhận định của Lyndon B. Johnson như sau: “President Diem is the Churchill of the decade… in the vanguard of those leaders who stand for freedom…”

(11) Karnow, Stanley. Tài liệu đã dẫn, nhận xét về Tổng Thống Diệm: “… into South Vietnam’s military and Police machinery, leaving only small fraction for economie development; and he was less interested in building an army to fight Viet Cong guerrillas than in forming conventional units that would protect him against his rival in Saigon…” Karnow cựu thông tín viên cho các tờ Times, Life và The Washington Post kiêm chủ nhiệm The New Republic về vấn đề Ðông Nam Á, nổi tiếng qua quyển “Mao and China” năm 1972 vì những sự thật được phơi bày trong đó. Nhưng đến quyển Vietnam a story xuất bản năm 1983, ông vấp phải nhiều sai sót nghiêm trọng, có lẽ vì không được ở Việt Nam lâu bằng ở Trung Cộng. Ðiển hình là ông không biết Liên Binh Phòng Vệ dinh Tổng Thống có mấy Tiểu đoàn và Lực lượng Ðặc biệt của Trung tá Lê Quang Tung có bao nhiêu đại đội thuộc Cần Lao? Ông cũng không biết đến quốc sách 7 ngàn ấp chiến lược với 8 triệu dân quân đang ngày đêm trực diện chiến đấu với cộng sản tại nông thôn hẻo lánh. Thành thử ông nhận định hàm hồ như vậy cũng phải!

(12) Nghi phạm ám sát HQ/Ðại Tá Hồ Tấn Quyền (khóa 1 Sĩ quan Nha Trang) là HQ/Thiếu Tá Trương Ngọc Lực (khóa 2 Sĩ quan Nha Trang). Các Tướng lãnh tổ chức cuộc đảo chánh ngày 1 Tháng Mười Một năm 1963 đã sai lầm trong quyết định dùng một sĩ quan đàn em sát hại sĩ quan đàn anh mà không đếm xỉa gì đến truyền thống quân chủng Hải Quân. Ngay khi nhận thấy hậu quả nghiêm trọng về cái chết của tư lệnh Hải Quân. Hội Đồng Tướng Lãnh vội vã thăng cấp trung tá Bộ Binh cho Lực rồi đẩy ra nước ngoài để tránh búa rìu nguyền rủa của cả Hải Quân vào thời đó.

(13) Tham chiếu quyết định của Hội Ðồng Tu Chính Hải Qui do Phó Ðề Đốc Lâm Nguơn Tánh làm chủ tịch, BTL/HQ/P5 ban hành một tài liệu căn bản về việc định danh (đặt tên) cho các chiến hạm và chiến đỉnh vào Tháng Sáu năm 1971. Tên các chiến đỉnh trong tập này được viết theo đúng tinh thần sự vụ văn thư đã phổ biến. Xin xem chương trình ACTOV trong tập này, trang…

(14) Trên thế giới, các quốc gia văn hiến chọn ngày truyền thống Quân Đội (Ngày Quân Lực) là ngày đề cao giá trị tinh thần bất khuất, anh dũng hy sinh và tình đoàn kết chiến đấu vì mục tiêu cao cả của người chiến binh mình. Úc Ðại Lợi (Australia) chẳng hạn, Lưỡng Viện Quốc Hội Úc đã chọn ngày 25 Tháng Tư hằng năm làm ngày ANZAC. Cái độc đáo của ngày Quân Lực Úc là ngày bại trận tổn thất đến 5,000 chiến binh nhưng lại nói lên tinh thần keo sơn đoàn kết, hào hùng chiến đấu của Liên Quân Úc và Tân Tây Lan trên chiến trường quá bất lợi Gallipoli (Thổ Nhĩ Kỳ) vào ngày 25 Tháng Tư năm 1915. Còn ngày Quân Lực 19 Tháng Sáu năm 1965 của nền Ðệ II VNCH chỉ là ngày mà Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung ương Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đồng ý với nhau mà thôi, không làm đảo chánh nữa vì đã loại bỏ chính quyền dân sự Phan Khắc Sửu (Tổng thống) và Phan Huy Quát (thủ tướng) rồi. Ngày truyền thống của Quân Lực VNCH mà chỉ có hai người quyết định giống như trong thời kỳ quân chủ chuyên chế. Thật hiếm thấy thay!

(15) Vùng III Sông Ngòi có 5 Giang Ðoàn Xung phong trực thuộc:

Giang Ðoàn 22 Xung Phong và Giang Ðoàn 28 Xung Phong hợp thành Liên Giang Ðoàn trú đóng tại Nhà Bè.

Giang Ðoàn 24 Xung Phong và Giang Ðoàn 30 Xung Phong hợp thành Liên Giang Ðoàn trú đóng tại Long Bình.

Giang Ðoàn 27 Xung Phong, tăng phái thường trực cho Ðặc khu Rừng Sát. Trú đóng tại Nhà Bè.

Vùng IV Sông Ngòi có 7 Giang Ðoàn Xung phong trực thuộc:

Giang Ðoàn 21 Xung Phong và Giang Ðoàn 33 Xung Phong hợp thành Liên Giang Ðoàn đồn trú tại Mỹ Tho.

Giang Ðoàn 23 Xung Phong và Giang Ðoàn 31 Xung Phong hợp thành Liên Giang Ðoàn đồn trú tại Vĩnh Long.

Giang Ðoàn 25 Xung Phong và Giang Ðoàn 29 Xung Phong hợp thành Liên Giang Ðoàn đồn trú tại Cần Thơ.

 


TÀI LIỆU CHỌN LỌC THAM KHẢO

Tập này không có phần phụ đính danh mục (Index) để đồng nhất và dễ dàng tra cứu, tên các tác giả nước ngoài sẽ được ghi HỌ trước rồi mới đến TÊN giống như tên các tác giả Việt Nam, trong phần ghi chú.

  1. Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim. Sài Gòn Thư xã 1962.
  2. Lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam – Nguyễn Hợp Minh. Melbourne 2000, tập 6.
  3. Quân sử – Bộ TTM/Phòng 5 1972, tập 4 quân lực hình thành Sài Gòn 1972.
  4. Hai Mươi Năm Qua, việc Từng Ngày 1945-1964 – Ðoàn Thêm. Sài Gòn 1966.
  5. Tôn Ngô binh pháp – Ngô Văn Triệu. Sài Gòn 1973.
  6. Trấn Hưng Ðạo binh thư yếu lược – Nguyễn Ngọc Tỉnh. Paris 1988.
  7. Hoạt động trong sông của Hải Quân VNCH. Phó Ðề đốc Ðặng Cao Thăng, bài viết cho Hải sử 2000 (HS 2000)
  8. Giang Ðoàn Xung Phong 22, 25 và 29. HQ/Ðại Tá Lê Hữu Dõng, bài viết cho HS 2000
  9. Lược sử tổ chức Hải Quân VNCH. HQ/Trung Tá Vũ Hữu San, bài viết cho HS 2000
  10. Giang Ðoàn 26 Xung Phong. HQ/Trung Tá Trần Ðỗ Cẩm, bài viết cho HS 2000.
  11. Trận Ba Rài. HQ/Trung Tá Phan Lạc Tiếp, bài viết cho HS 2000.
  12. Trung Ðoàn U Minh Hạ. Ðộc Hành. Việt Luận số 297 Sydney 5/1988.
  13. Hồi ký 20 năm binh nghiệp. Trung tướng Tôn Thất Ðính. CA Chánh đạo 1988.
  14. Cuộc chiến dang dở. Tướng Trần Văn Nhựt. CA 2003.
  15. Việt Nam Máu Lửa. Nghiêm Kế Tổ. Mai Lĩnh Sài Gòn 1954.
  16. Kinh nghiệm chiến trường chống đặc công thủy. Ban Hải sử. BTL/HQ/P5 Sài Gòn 1970.
  17. 1945 Lạc đường vào lịch sử. Nguyễn Manh Côn. Giao điểm Sài Gòn 1965.
  18. Ðường mòn trên biển. Nguyễn Tư Ðương. Hà Nội 2002.
  19. The Ford Foundation Fellowship USA and France – Cao Thế Dung 1976.
  20. Reassessing the ARVN – Lewis Sorley. VN Magazine April 2003.
  21. Nation in arms – Greg Lockhart. Australia 1989.
  22. The Vietnam war for dummies – Ronald B. Frankum, Jr and Stephen F. Maxner. Wiley Publishing Newyork 2003.
  23. Vietnam war almanac – Harrys Summer Jr. USA 1982.
  24. Vietnam a history – Stanley Karnow. Viking Newyork 1983.
  25. Encyclopedia of the Vietnam war – Spencer C. Tucker. London 1999.
  26. Vietnam: A visual encyclopedia – Philip Gutzman. London 2002.
  27. The brown water navy – Victor Croizat. Blandford Press UK 1984.
  28. The naval war in Vietnam – Anthony Preston. USA 1985.
  29. Brown water, Black berets – Thomas J. Cutler. USA 1988.
  30. Dictionary of the Vietnam war by Marc Leepson with Hanaford. USA 1996.
  31. Victory at any cost – Cecil B. Currey. Great Britain 1997

…………………………………………………………………………….

Hình ảnh Hải quân VNCH của Nam Ròm

QUỐC KHÁNH 1 THÁNG 11 NĂM 1967

Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam (1967-1975) là chính thể dân sự của Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở của bản Hiến pháp tháng 4 năm 1967 và cuộc bầu cử tháng 9 năm 1967. Ngày 1 tháng 11 năm 1967 được xem là ngày chính thức thành lập nền Đệ Nhị Cộng hòa.

 Đệ Nhị Cộng Hòa 1-11-1964

.
.
Biên dịch: Tuong Vu

Sau nền Đệ Nhất Cộng Hòa ,bốn năm tiếp theo (1963-67) là giai đoạn giao thời. Trong thời kỳ này, chính quyền miền Nam do các sĩ quan quân đội lãnh đạo với sự cộng tác của viên chức dân sự. Lúc này ngọn lửa chiến tranh đã lan rộng với lực lượng quân đội của Mỹ và miền Bắc đổ vào miền Nam ngày càng nhiều. Cho đến năm 1966, chính trị trong nước rơi vào tình trạng bất ổn và chính quyền thay đổi liên tục. Sự hỗn loạn này là do quan hệ thay đổi giữa các sĩ quan quân đội, do các hoạt động chính trị của nhóm tu sĩ Phật giáo đã gây ra sự sụp đổ của nền Đệ nhất cộng hòa, và do cố gắng của các tổ chức tôn giáo hay chính trị khác thúc đẩy hay chống lại thay đổi.

Vào năm 1967, một bản Hiến pháp mới được thông qua và thi hành, dẫn đến sự ra đời của nền Đệ nhị cộng hòa (1967-75). Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, chế độ miền Nam đạt được sự ổn định chính trị và ngày càng đảm nhiệm vai trò lớn hơn trong cuộc chiến khi quân đội Mỹ rút lui dần dần và hoàn toàn vào năm 1973. Trong những năm này, thường dân, nhà giáo, nhà báo, chính khách, thương nhân, viên chức, luật sư, thẩm phán, tướng lãnh quân đội, và nhà ngoại giao, đều có đóng góp vào việc xây dựng một chính phủ hiến định dựa trên chế độ bầu cử tương đối cởi mở với các cơ quan hành pháp, lập pháp, và tư pháp riêng biệt. Trong một đất nước vừa được độc lập không lâu, trải qua một quá trình giải thực khó khăn, không có truyền thống dân chủ hay lập hiến, lại bị một nước lân cận quyết tâm phá hoại, và với một đồng minh đang tìm cách rút lui, thử nghiệm dân chủ dưới nền Đệ nhị cộng hòa vẫn diễn ra và đạt được nhiều thành công.

Hầu như tất cả các tác giả viết về những năm cuối của cuộc chiến đều lờ đi thành tích đạt được của nền Đệ nhị cộng hòa. Những thành tích đó làm cho người Mỹ xấu hổ vì một trong những lập luận chính của những người có lập trường chống chiến tranh Việt Nam là chính phủ Sài gòn là một chế độ độc tài không thể thay đổi được, không xứng đáng nhận sự giúp đỡ của Mỹ, và dù thế nào chăng nữa cũng phải thất bại. Lập trường phản chiến này đã giành được địa vị độc tôn trong giới học giả và phân tích chính trị ở Mỹ. Lập luận nêu trên giúp cho người Mỹ bớt dằn vặt về đạo đức vì nước Mỹ đã bỏ rơi một đồng minh trong cơn hoạn nạn. Nhưng thực ra lập luận đó phản ánh nỗi thất vọng của người Mỹ nhiều hơn là thực tế những gì đang xảy ra do người Việt cảm nhận. Những hồi ức trong tập sách này phản ánh những ước vọng và nỗ lực của những người quan tâm nhiệt thành đến tương lai của nền Đệ nhị cộng hòa.

Nền Đệ nhị cộng hòa đạt được ít nhất bốn thành tựu chínhThứ nhất, về mặt quân sự, Quân lực VNCH nhận trách nhiệm chiến đấu từ người Mỹ. Mặc dù biến cố Tết Mậu thân năm 1968 làm cho dư luận Mỹ chuyển sang phản đối chiến tranh Việt Nam, dư luận ở miền Nam Việt Nam thay đổi theo chiều ngược lại. Tổn thất của phe Cộng sản giúp chính phủ giành lại quyền kiểm soát phần lớn vùng thôn quê và thực thi những chính sách hợp lòng dân quê. Thêm nữa, việc người Cộng sản đem cuộc chiến vào giữa các đô thị gây căm phẫn cho dân cư thành thị. Rất nhiều người giờ đây hiểu rằng họ có một thứ cần phải chiến đấu để gìn giữ: đó chính là nền Đệ nhị cộng hòa. Với sự rút lui của quân đội Mỹ sau Tết Mậu thân, người Việt ngày càng nhận thêm trách nhiệm bảo vệ đất nước họ.

Trong hai năm 1970 và 1971, Quân lực VNCH tham chiến với quân đội Mỹ hay với sự trợ giúp hỏa lực của Mỹ đã tiến hành những chiến dịch lớn ở Lào và Cam Bốt với mục đích làm giảm bớt khả năng của quân đội Bắc Việt dùng lãnh thổ của hai nước láng giềng tấn công vào miền Nam Việt Nam. Những chiến dịch này gây nhiều tổn thất và tranh cãi, nhưng cũng giúp cho Quân lực VNCH thêm khả năng và kinh nghiệm, và phần nào đặt quân đội Bắc Việt vào thế bị động. Trong cuộc tổng tấn công trên ba mặt trận vào mùa xuân 1972 của Cộng sản, khi hầu như tất cả quân đội Mỹ đã rút khỏi Việt Nam, Quân lực VNCH đã đẩy lùi Cộng quân với sự trợ giúp của không quân Mỹ. Tuy nhiên ba năm sau đó, thiếu sự ủng hộ vật chất và tinh thần của đồng minh, nền Đệ nhị cộng hòa đã bị đánh bại.

Thành tựu thứ hai của nền Đệ nhị cộng hòa là ở lĩnh vực phát triển nông thôn. Sau Tết Mậu thân, tình hình an ninh ở thôn quê được đảm bảo cho việc thực thi một chương trình cải cách ruộng đất làm thay đổi nền kinh tế, xã hội, và chính trị ở phần lớn khu vực nông thôn. Mặc dù không được phần lớn giới quan sát ngoại quốc quan tâm, chính sách này tạo ra một mối quan hệ bình đẳng hơn giữa thành thị và thôn quê cũng như bồi đắp tiềm lực của khu vực nông thôn để làm tiền đề cho việc phát triển kinh tế trong tương lai. Chương trình cải cách ruộng đất được thực thi một cách hòa bình và được sự ủng hộ của dân chúng, hoàn toàn khác với các cuộc cải cách ruộng đất tàn bạo ở Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam. Đây là một lý do nữa mà người miền Nam phải chiến đấu chống lại miền Bắc.

Thứ ba, những thành tựu quan trọng về sản xuất và phân phối lúa gạo, về quản lý thị trường, về tìm kiếm dầu hỏa, và về chính sách tài chính đưa miền Nam Việt Nam gần hơn với mục tiêu độc lập kinh tế khi viện trợ Mỹ chấm dứt. Một thế hệ lãnh đạo mới đã hình thành, trong đó nhiều người có tinh thần dân tộc cao và tốt nghiệp từ các trường đại học của Mỹ. Những người này đem chí hướng cải cách cũng như thái độ tích cực và thực tế vào một nền hành chánh vốn chịu nhiều ảnh hưởng của quá khứ thực dân quan liêu. Trong hoàn cảnh phải đối đầu với những vấn đề nghiêm trọng, thậm chí đến mức tuyệt vọng, trong hoàn cảnh nguồn lực suy yếu vì đồng minh Mỹ cắt giảm viện trợ, chính phủ Đệ nhị cộng hòa cho thấy có khả năng đưa ra những quyết định táo bạo.

Thứ tư, nhiều tiến bộ phải được ghi nhận về việc xây dựng một chính phủ hợp hiến gồm có lưỡng viện Quốc Hội, thể chế bầu cử đa đảng, và một hệ thống tư pháp độc lập giúp củng cố quy trình pháp luật để bảo vệ tự do cá nhân và những nguyên tắc chính trị dân chủ. Nhiều người Mỹ chê bai những tiến bộ trong lãnh vực này của chính phủ Đệ nhị cộng hòa bằng cách so sánh chúng với những thể chế ở Mỹ đã có hơn 200 năm phát triển. Nhưng nếu so sánh với những gì Việt Nam trải qua dưới thời thực dân và trong chiến tranh, chúng ta sẽ nhận thấy rất nhiều tiến bộ trong thời kỳ Đệ nhị cộng hòa.

Những thành tựu trên không có nghĩa là Đệ nhị cộng hòa không có khuyết điểm gì. Nhiều quốc gia hậu thuộc địa, kể cả hai nhà nước ở hai miền của Việt Nam, đều phải lệ thuộc rất lớn vào ngoại viện. Ngược lại với Bắc Việt, khuyết điểm lớn nhất của Đệ nhị cộng hòa là việc nó lệ thuộc vào một đồng minh không “chung thủy” [nguyên văn: “unreliable”]. Các chính khách của miền Nam có xu hướng coi quan hệ đồng minh với Mỹ là mặc nhiên và không tìm cách để bảo vệ mối quan hệ hay thay thế nó khi nó không còn nữa.

Đệ nhị cộng hòa thất bại trên mặt trận tuyên truyền ở Mỹ vì người ta gán cho nó những khuyết điểm của nền Đệ nhất cộng hòa và của giai đoạn giao thời. Dĩ nhiên những cặp mắt phê phán luôn có thể tìm thấy khuyết điểm ở bất cứ quốc gia nào, đặc biệt trong trường hợp một quốc gia trẻ đang cố gắng để tồn tại dù phải đương đầu với một kẻ thù ghê gớm. Nhưng những người Mỹ phê phán Đệ nhị cộng hòa lại có thái độ kẻ cả của một nước lớn. Họ đi xa đến mức chối bỏ tính chính danh của chế độ Đệ nhị cộng hòa như một nhà nước có chủ quyền. Chính phủ Mỹ cũng phạm sai lầm tương tự. Hiệp định Paris do Washington ký kết với Hà Nội đã vi phạm hiến pháp và chủ quyền của Đệ nhị cộng hòa.

Năm 1954, Pháp thay mặt cho những người Việt quốc gia đàm phán ở Geneva nhưng thực ra là làm hại họ. Chính phủ Mỹ cũng làm thế đối với Hiệp định Paris năm 1973. Ngô Đình Diệm coi Hiệp định Geneva là hành động của Pháp qua mặt chính phủ của ông ta để đàm phán với kẻ thù. Nguyễn Văn Thiệu cũng có suy nghĩ tương tự với Hiệp định Paris giữa Mỹ và Bắc Việt. Cả hai thỏa ước chứa đựng những điều khoản có thể hay thực tế đã gây khó khăn cho những người Việt quốc gia.

Một lý do gây tranh cãi về Hiệp định Geneva là việc người Pháp thừa nhận Cộng sản Việt Nam là đại diện cho một nhà nước có chủ quyền, trong khi đó họ lại không phê chuẩn một thỏa ước trao trả độc lập cho chính quyền của phe quốc gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo. Mưu đồ của người Pháp muốn giữ lại chủ quyền ở miền Nam là để nắm quyền xử lý tình hình ở Sài gòn cho đến khi “bầu cử” thống nhất được tổ chức hai năm sau theo Hiệp định.

Nhưng Ngô Đình Diệm không cho phép người Pháp tiếp tục khuynh đảo tương lai của Việt Nam. Ông ta tổ chức trưng cầu dân ý vào tháng 10 năm 1955 để truất phế Bảo Đại và tạo điều kiện cho nền Đệ nhất cộng hòa ra đời. Biến cố này có thể được xem là bản tuyên ngôn độc lập của người Việt quốc gia. Họ làm được việc này nhờ tìm được người Mỹ làm đồng minh. Tuy nhiên, khi người Mỹ thỏa thuận với Cộng sản để rút lui khỏi Việt Nam năm 1973, người Việt quốc gia không còn chỗ dựa nào khác.

Có lẽ chẳng có cách nào để VNCH khắc phục được khuyết điểm căn bản là thiếu một đồng minh đáng tin cậy trong khi đồng minh của Bắc Việt không bỏ cuộc cho đến phút cuối. Có lẽ chẳng có cách nào giúp chế độ Đệ nhị cộng hòa khắc phục được việc bị dư luận Mỹ đánh đồng với những thất bại của Đệ nhất cộng hòa và giai đoạn giao thời. Nhưng cũng có thể lập luận như một vài tác giả trong tập sách này rằng Đệ nhị cộng hòa lẽ ra nên tích cực chủ động hơn trong việc tác động đến dư luận Mỹ để chính phủ Mỹ có thể hỗ trợ Việt Nam lâu hơn và nhiều hơn—dù rằng việc này rất khó trong điều kiện dân chúng Mỹ phải bận tâm đến những rối loạn chính trị xã hội ở nước họ.

Không thể phủ nhận rằng Đệ nhị cộng hòa phải đương đầu với những thách đố nghiêm trọng. Phần lớn nếu không phải tất cả những thách đố đó đều có liên quan đến việc giảm dần tiến tới mất hẳn nguồn ngoại viện nhưng vẫn phải mạnh lên để kháng cự quân đội miền Bắc vẫn tiếp tục được đồng minh của họ trợ giúp. Bài viết của Trần Quang Minh và Nguyễn Đức Cườngtrong tập sách này mô tả những cố gắng tái cấu trúc kinh tế và kế hoạch tự lực cánh sinh. Hồ Văn Kỳ-Thoại kể lại trận đánh giữa VNCH và Trung Cộng ở Hoàng Sa năm 1974. Khi đó, tàu của Hải quân Mỹ quan sát từ xa nhưng không can thiệp và thậm chí không cứu vớt những người lính thủy Việt Nam bị chìm tàu trong cuộc hỗn chiến. Qua cử chỉ này của quân đội Mỹ, chính phủ Sài gòn đáng lẽ phải biết rằng không thể tiếp tục trông vào sự giúp đỡ của Mỹ khi cần thiết nữa. Việc Sài gòn vẫn tiếp tục mong được Mỹ giúp đỡ có lẽ là thất bại lớn nhất của Đệ nhị cộng hòa—tuy nhiên cũng phải nói là khó tìm được một đồng minh khác có thể thay thế Hoa Kỳ.

Không khó để chỉ trích những quyết định chiến thuật và chiến lược của Nguyễn Văn Thiệu trong mùa xuân 1975, nhưng không phải dễ để chỉ ra một lối thoát. Từ khi quân đội Mỹ triệt thoái năm 1973, viện trợ Mỹ cho Đệ nhị cộng hòa giảm bớt rất nhanh. Trong khi đó, địch quân được Hiệp định Paris cho phép ở lại miền Nam và tiếp tục được củng cố, huấn luyện và tái trang bị cho các chiến dịch kế tiếp.

Ai đó có thể lập luận rằng cam kết thực thi một nền dân chủ hợp hiến của Đệ nhị cộng hòa là một nhược điểm so với chế độ Cộng sản độc tài toàn trị ở miền Bắc. Chế độ này huy động tất cả dân chúng vào cuộc chiến và không cho phép ai có ý kiến khác. Đúng là việc động viên toàn bộ dân chúng kiểu miền Bắc khó có thể thực hiện được trong chế độ đa nguyên chính trị của Đệ nhị cộng hòa với một nền báo chí và cơ chế bầu cử tương đối tự do cho phép có dân biểu đối lập trong Quốc Hội, cộng thêm một nền tư pháp tương đối độc lập. Nhưng đây lại chính là ý nghĩa của cuộc chiến tranh, là lý do người miền Nam phải chiến đấu để gìn giữ. Nếu Đệ nhị cộng hòa cũng bắt chước chế độ toàn trị ở miền Bắc thì không còn lý do nào để chiến tranh tiếp diễn.

Những bài viết trong tập sách này đầu tiên được trình bày tại một hội thảo ở Đại học Cornell vào tháng 6 năm 2012. Các tác giả đại diện cho nhiều quan điểm và có những kinh nghiệm khác nhau dưới thời Đệ nhị cộng hòa, nhưng đều có ước vọng và công sức đóng góp vào xây dựng nền dân chủ hợp hiến trong thời chiến. Công cuộc xây dựng một nền dân chủ vững mạnh và thực thi những cải cách để đạt được mục đích đó đã nhận được nỗ lực và niềm tin của nhiều người Việt, dù phải tiến hành trong điều kiện chiến tranh khắc nghiệt và chịu dư luận búa rìu của một đồng minh lúc đầu thì dẫm đạp lên quyền lợi quốc gia của Việt Nam nhưng sau đó lại bỏ rơi nó. Tôi biết ơn lòng can đảm của những tác giả. Sau nhiều thập kỷ Đệ nhị cộng hòa bị người Mỹ coi thường, họ vẫn giữ được tiếng nói, và giờ đây viết lại kinh nghiệm của họ với sự trung thực.

.

Nguồn: K. W. Taylor, “Introduction: Voices from the South”, in K. W. Taylor (ed), Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975) (Ithaca: Cornell Southeast Asia Program Publications, 2014), pp. 1-8.

…………………………………………………………………………………………………….

KỶ NIỆM QUỐC KHÁNH 26 THÁNG 10 NĂM 1956

 

KỶ NIỆM QUỐC KHÁNH 26 THÁNG 10 NĂM 1956

Kỷ niệm Ngày Quốc Khánh 26/10 của nền Đệ Nhất Cộng Hòa

On 26 October 1955, Diệm declared himself the president of the newly proclaimed Republic of Vietnam…

.
Kỷ Niệm Quốc Khánh 26-10-1956
Ngày Tổng Thống Ngô Đình Diệm công bố Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa sau khi Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết với đa số tuyệt đối.

*********************************************************
Sau cuộc Trưng cầu Dân ý ở phía nam vĩ tuyến 17 vào Tháng Mười năm 1955 với kết quả là Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế thì tân tổng thống Ngô Đình Diệm cho nhóm họp Ủy ban Thảo hiến vào cuối năm 1955 gồm 11 thành viên để soạn Hiến pháp cho quốc gia cộng hòa mới

Sang Tháng Ba năm 1956 thì mở cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến với 123 đại biểu để hoàn tất công việc soạn thảo và thông qua bản hiến pháp. Chính Quốc hội cũng đề cử 15 người lập ra Ủy ban hiến pháp riêng, chủ tịch là Trần Chánh Thành để cùng hiệp soạn.

Tháng Bảy năm 1956 thì Quốc hội bỏ phiếu thuận và đến 26 Tháng Mười sau khi một vài điểm dị biệt giữa hai ngành lập pháp và hành pháp được giải quyết thì tổng thống ký văn bản ban hành. Ngày đó cũng là ngày quốc khánh của nền Đệ nhất Cộng hòa.

Lễ Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hoà – Saigon 26/10/1957.

 

Ngày Quốc khánh Việt Nam Cộng Hòa ( Đệ nhất Cộng hòa 1955-1963 ), Sài Gòn ngày 26/10/1962

.

Cờ vàng ba sọc đỏ ở Hà Nội và miền bắc thời Quốc Gia Việt Nam năm 1950.

.
.

QUỐC KHÁNH 1 THÁNG 11 NĂM 1967

Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ thăm bãi cọc Bạch Đằng

TTO – “Tôi rất thán phục tiền nhân anh hùng nước Việt. Đặc biệt khi biết được chiến lược mà các tướng lĩnh Việt Nam ngày xưa đã sử dụng để đánh bại quân xâm lược, dân tộc Việt đã vượt qua nhiều khó khăn bằng tinh thần kiên cường và chiến thuật tài tình để gìn giữ nền độc lập tự do”

Đô đốc Scott H. Swift năm nay 60 tuổi, ông giữ chức vụ chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ kể từ ngày 27-5-2015 – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

Đó là chia sẻ của đô đốc Scott H. Swift, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương Mỹ, khi đến thăm di tích lịch sử Bạch Đằng Giang với bãi cọc Bạch Đằng lịch sử vào sáng 6-10.

Trong gần hai tiếng có mặt tại khu di tích Bạch Đằng Giang (Hải Phòng), người đứng đầu hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đã đến thăm các khu di tích tưởng niệm các vị anh hùng dân tộc của Việt Nam như: đền thờ vua Lê Đại Hành, đền thờ  Đức Thánh Trần Hưng Đạo, đền thờ vua Ngô Quyền và khu vực di tích bãi cọc Bạch Đằng.

Chia sẻ với các phóng viên sau chuyến viếng thăm, đô đốc Scott H. Swift cho rằng: “Với cương vị là tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, tôi đến đây là một biểu hiện cho thấy mối quan hệ ngày càng thắt chặt giữa hải quân của hai nước. Hiện tại chúng ta phải đối mặt với những thách thức chung và cũng có những lợi ích chung. Điều quan trọng nhất là các quốc gia trong khu vực đều có được những lợi ích từ việc duy trì được sự ổn định và hòa bình”.

“hàng không Mẫu Hạm của Mỹ sẽ đến Việt Nam trong một thời điểm phù hợp” – đô đốc Scott H. Swift nói thêm.

Bằng vốn tiếng Việt khá tốt của mình, Đại sứ Mỹ Ted Osius khẳng định: “Trong lịch sử Việt Nam đã phải đối đầu với nhiều lực lượng lớn hơn mình nhiều lần, nhưng hết lần này đến lần khác, Việt Nam đều thành công trong việc duy trì nền độc lập của dân tộc, những người Mỹ chúng tôi đều biết rất rõ điều này.”

Đô đốc Scott H. Swift đến Việt Nam vào tối 4-10. Ngay sau chuyến viếng thăm tới khu di tích Bạch Đằng Giang, tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ sẽ có buổi làm việc với Bộ Quốc phòng Việt Nam.

Trong lịch sử giữ nước của Việt Nam, sông Bạch Đằng đã từng ba lần chứng kiến quân và dân ta chiến thắng oanh liệt quân xâm lược phương Bắc hùng mạnh đều bằng các cây cọc gỗ cắm xuống lòng sông Bạch Đằng. Đó là chiến thắng Bạch Đằng năm 938, chiến thắng Bạch Đằng năm 981 và đỉnh cao là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.

Cọc Bạch Đằng, đa số cọc được cắm nằm chếch theo hướng đông 15°, cắm theo hình chữ “chi” (之), cọc phần lớn bằng gỗ lim, gỗ táu, đầu dưới vát nhọn – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

Cọc Bạch Đằng

Đô đốc Scott H. Swift thấp hương các tượng đền thờ và cảm thấy thán phục trước chiến lược mà các tướng lĩnh Việt Nam đã sử dụng để đánh bại quân xâm lược, hiện nay tại Khu di tích Bạch Đằng Giang dựng tượng vua Lê Đại Hành, Đức Thành Trần Hưng Đạo và vua Ngô Quyền – Ảnh: NGUYỄN KHÁNH

Đô đốc Scott H. Swift tại bãi cọc Bạch Đằng

Trung Tá Hồi Hưu Lục Quân Hoa Kỳ Lên Tiếng Về Bộ Phim Tài Liệu Chiến Tranh Việt Nam (The Vietnam War)

Chào ông J. Patrick Garland,

Đêm qua tôi và vợ tôi xem tập phim số 10 (Episode 10) của Ken Burns, một bộ phim tài liệu về Chiến Tranh Việt Nam (Vietnam War Documentary). Chúng tôi cảm thấy thật là đau đớn khi xem. Những cảnh tượng tàn phá đổ nát của miền Nam Việt Nam bởi một trong những chế độ Cộng sản tàn bạo nhất trên thế giới, vào thời đó, thật kinh khủng như chúng ta đã chứng kiến lần đầu tiên vào tháng 4 năm 1975 trên đài truyền hình.

Năm 1975, vợ tôi và tôi quyết định rằng điều duy nhất chúng tôi có thể làm được là cung cấp nhà của chúng tôi cho người tỵ nạn Việt Nam, và vì vậy chúng tôi đã làm điều này. Lúc đó chúng tôi có bốn đứa con, và tôi là một giảng viên của ROTC tại trường Đại học Rhode Island. Chúng tôi sửa đổi ngôi nhà của mình để thích ứng với những gì chúng tôi nghĩ là sẽ phù hợp cho một gia đình người tỵ nạn Việt Nam. Tuy nhiên, vì chúng tôi sống ở tiểu bang Rhode Island nên nhiều người Việt Nam sợ mùa đông rất lạnh ở đây.

Vào mùa thu năm 1975, chúng tôi được thông báo rằng có một nhóm người tị nạn khó định cư: đó là những người đàn ông độc thân không nói được tiếng Anh, và chúng tôi được yêu cầu giúp đỡ một người. Chúng tôi đồng ý, và anh ấy được gởi đến ngay sau đó. Vài tháng sau, chúng tôi gặp một người đàn ông Việt Nam độc thân thứ hai mà người bảo trợ của anh vừa mới qua đời bất ngờ, để lại vợ và chín đứa con. Người đàn ông này cũng đã đến sống với chúng tôi. Tất cả những chuyện này khởi đầu một cuộc hành trình kéo dài hai năm với những người đàn ông Việt Nam sống trong nhà của chúng tôi…

Vào hầu hết các ngày chủ nhật, vợ tôi và tôi đã tổ chức một nhóm khoảng 6 đến 8 người đàn ông Việt Nam đến nhà bếp chúng tôi để họ nấu thức ăn cho chính họ và dành hàng giờ để nói chuyện với nhau và chia sẻ với vợ tôi những đau khổ quá sức tưởng tượng mà họ cảm nhận cho sự mất mát của gia đình và đất nước của họ. Họ chia sẻ những câu chuyện khủng khiếp này với vợ tôi; nhưng một khi có tôi bên cạnh họ không bao giờ khóc hoặc phàn nàn. Một người trong số họ cuối cùng đã kết hôn với em gái út của vợ tôi và đã trở thành một thân nhân của gia đình chúng tôi trong hơn 40 năm qua.

Sở dĩ tôi đang kể câu chuyện này là để giải thích sự kinh hoàng không ai dám coi thường mà chúng tôi cảm nhận khi nhìn thấy một quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới, Hoa Kỳ, đứng lùi lại và thản nhiên quan sát sự hủy diệt toàn diện của một đồng minh lâu năm mà chúng tôi đã thực hiện các cam kết bằng “máu”. Cho đến ngày hôm nay, chúng tôi cảm thấy rằng quốc gia chúng tôi đã hoàn toàn phản bội một dân tộc đã cam kết toàn bộ sự sống còn và tài sản của họ vào lời hứa của chúng tôi. Trong quan điểm của chúng tôi, sự thất bại đó là một vết nhơ bẩn của máu mà nó sẽ không thể dễ dàng được gột rửa, và nó sẽ không bao giờ nên để lại xảy ra lần nữa.

Với loạt phim của Ken Burns, sự thất vọng của tôi là ở chỗ nó đã bỏ sót – những gì không được kể, nhiều hơn là công việc của nó – những gì đã được nói..

Chuyện mở đầu của Trận Ấp Bắc chỉ nói về một mặt của câu chuyện, mặc dù có nhiều nguồn tin khác có thể được xem xét để có một cái nhìn khác. Cụ thể là chiến công của ông Lý Tòng Bá, một đại úy trẻ tuổi VNCH chỉ huy thiết đoàn thiết vận xa M-113. Tôi đã đọc chuyện và nghe ông Bá trực tiếp kể trận đánh.

Bản báo cáo về trận chiến đó của báo chí Mỹ, về “sự thất bại, thiếu khả năng, và hèn nhát của quân đội VNCH” là cái đinh chính đầu tiên đóng vào quan tài của Tổng thống Ngô Đình Diệm và là khởi đầu những năm dài nhạo báng quân lực và giới lãnh đạo VNCH của báo chí Hoa Kỳ. Phim tài liệu của Burns ủng hộ hầu như toàn diện quan điểm đó, mặc dù đã có lời tuyên bố khẳng định của người kể chuyện. Nói cách khác, chúng tôi đã nghe một “hồi trống” tràn ngập những lời tuyên dương về sự dũng cảm, tính bền bỉ, và khả năng chiến đấu của các lực lượng Cộng sản, cả Việt Cộng và Quân đội Bắc Việt.

Mặc dù có một bình luận ngắn gọn là có một điệp viên Cộng sản đã báo động cho VC tại Ấp Bắc, Burns hoàn toàn không quan tâm đến vai trò của siêu gián điệp Cộng sản Phạm Xuân Ẩn, một đại tá trong quân đội Bắc Việt mà nhiều phóng viên Mỹ hay tiếp xúc, đã đóng trong cuộc phục kích được sắp đặt trước đó. Câu chuyện và vai trò của ông đại tá này đã sẵn có trên các nguồn tin công cộng.

Chúng tôi theo dõi chi tiết dài giòng về trận đánh Ấp Bắc, kéo dài tổng cộng chỉ 2 đến 3 ngày và được miêu tả như một thắng lợi vĩ đại của VC và thất bại của QLVNCH. Tuy nhiên, trong cuộc tấn công “Mùa Hè Đỏ Lửa” kéo dài ba tháng năm 1972 của Cộng sản, các chiến sĩ quân lực VNCH đã chiến đấu với sự dũng cảm và thành công to lớn, chỉ được trình chiếu trong tài liệu trong vài phút ngắn ngủi. Và không có một đề cập  nào nhắc đến những người thường dân tỵ nạn đổ xô chạy từ phía Bắc của miền Nam Việt Nam đã bị pháo binh của các lực lượng tiến quân Bắc Việt liên tục bắn giết.

Tôi biết có rất nhiều người thích nghe câu chuyện chi tiết về tài xế xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh, đặc biệt là phụ nữ, nhưng tôi không thấy có một câu chuyện nào về một phi công máy bay trực thăng Mỹ? Những người đàn ông này đã từng chiến đấu hàng chục năm trên những chiếc máy bay trực thăng luôn luôn hiện diện trong cuộc chiến mà chẳng bao giờ được nghe đến, nhưng chỉ thấy tài xế xe tải của quân đội Bắc Việt lại được nghe nhiều lần.

Trong khi tôi nghĩ rằng ông Burns và nhóm ông đáng được tôn trọng và đã làm một chuyện hay khi miêu tả nỗ lực và sự dâng hiến cuối cùng của Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam của Hoa Kỳ, tôi đã rất thất vọng vì nhóm ông đã không bỏ thời gian nhiều hơn cho câu chuyện đời sống hòa nhập và đóng góp đáng khâm phục của người tỵ nạn và cựu chiến binh miền Nam Việt Nam cho đất nước chúng tôi. Đây là đài kỷ niệm duy nhất họ có: cuộc sống của họ ở đây và những gì họ đã trả lại cho chúng tôi, nước Hoa Kỳ.

Vài năm trước, tôi đã có tướng Lý Tòng Bá thăm nhà tôi trong nhiều ngày và trong thời gian ở lại đó, theo yêu cầu của ông, chúng tôi có mời em họ ông và chồng bà, những người sống không xa nhà tôi, đến nhà ăn tối.

Trong bữa tối, người chồng, một cựu sĩ quan Không Lực Nam Việt Nam, đã kể câu chuyện ông ta đến Mỹ tị nạn không có gì khác hơn có tổng cộng một đô la Mỹ trong túi áo. Với giọng run run, anh hỏi tôi làm cách nào chúng tôi có thể phản bội và bỏ rơi họ trên chiến trường. Tướng Bá và vợ người sĩ quan có vẻ “sốc” trước câu hỏi đó. Tôi không có câu trả lời nhưng nói rằng tôi xin lỗi rất nhiều vì những hành động của chính phủ chúng tôi lúc đó. Không có bất kỳ đề cập nào khác về chuyện đó nữa trong suốt phần còn lại của chuyến thăm hai giờ đó của chúng tôi. Trên thực tế, trong tất cả các mối quan hệ của tôi với những quân nhân tị nạn Việt Nam, đó là lần duy nhất  có người nói điều tiêu cực  về chuyện Hoa Kỳ đối xử với họ vào giờ cuối.  Ngược lại, nhiều người đã bày tỏ lòng biết ơn của họ rằng chúng tôi (Hoa Kỳ) đã cho họ thêm 20 năm tự do nữa.

Tôi vui mừng nghe thấy tiếng nói của người phụ nữ đã từng là một nhà hoạt động chống chiến tranh khi cô đã xin lỗi vì những hành động của cô cách đây nhiều năm. Tôi vui mừng vì tôi đã nghe được điều đó từ nhiều người khác; điều đó hồi phục tôi. Một số người đã thừa nhận chân thực rằng hành động của họ vào thời điểm đó không những chỉ gây tổn thương cho những người trong chúng tôi đã phục vụ với danh dự mà còn hỗ trợ kẻ thù trong thời gian người Mỹ vẫn đang chiến đấu và chết trên chiến trường.

Nếu các thành viên trong giới báo chí Mỹ đã giúp đỡ và khuyến khích chính phủ Cộng sản Bắc Việt bằng các báo cáo sai sự thật cuối cùng đã thừa nhận lỗi của họ, và xin lỗi người dân Mỹ, nhân dân miền Nam Việt Nam và cựu chiến binh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam vì những gì họ đã làm, điều đó có thể là một bước tiến lớn trong quá trình hàn gắn vết thương của một cuộc chiến tranh rất đau lòng. Điều họ làm đó không phải là không có tiền lệ vì cũng có những người khác đã từng làm.

Trong cuốn sách “Làm thế nào để Thua Một Cuộc Chiến: Báo Chí và Việt Nam”(How To Lose a War: The Press and Viet Nam ” năm 1981, ông Robert Elegant đã lên tiếng thay cho một số phóng viên đã công nhận những gì họ đã làm. “Trong nửa phần sau của cuộc xung đột mười lăm năm của Mỹ ở Việt Nam, truyền thông đã trở thành chiến trường chính. Các sự kiện huyền ảo do báo chí báo cáo cũng như các sự kiện thực sự trong giới báo chí có tính quyết định hơn là sự xung đột của vũ khí hoặc sự cạnh tranh của các ý thức hệ. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, kết quả của một cuộc chiến đã được quyết định không phải trên chiến trường mà là trên trang báo, và trên hết, trên màn hình truyền hình. Nhìn lại một cách bình tĩnh, tôi tin rằng người ta có thể nói (và vẫn còn có vẻ ngạc nhiên khi nghe) rằng quân đội miền Nam và Mỹ thực sự đã thắng cuộc đấu tranh quân sự giới hạn đó. Họ hầu như đã nghiền nát Việt Cộng ở miền Nam, những du kích ‘bản địa’, những người được chỉ đạo, tăng cường, và trang bị từ Hà Nội; và sau đó họ đã đẩy lui cuộc xâm lược của các sư đoàn chính quy Bắc Việt. Tuy nhiên, chiến tranh cuối cùng đã bị mất cho quân xâm lược sau khi Hoa Kỳ ly khai bởi vì các áp lực chính trị được các phương tiện truyền thông tạo dựng đã khiến Hoa Thịnh Đốn không thể duy trì được sự hỗ trợ tinh thần và vật chất tối thiểu mà có thể cho phép chế độ Sài Gòn tiếp tục chống trả hiệu quả “…

“Tôi đã tìm thấy vài phóng viên Mỹ có đầu óc cứng rắn như một người Anh mà tôi biết, người đã rất gần với hành động trong nhiều năm qua trong việc sử dụng dịch vụ thông tin Hoa Kỳ. “Tôi cảm thấy xấu hổ về phần lớn những gì tôi viết ở Việt Nam”, ông nói với tôi lúc gần đây. “Nhưng tôi là một cậu bé mới, và tôi đã theo gương người Mỹ, những người đã nôn nóng với tinh thần chinh chiến của báo giới thập niên 1960 – sự liên quan, con người, trong cuộc chiến tốt đẹp. Bây giờ khi tôi nhìn vào những gì đã xảy ra, tôi cảm thấy xấu hổ về sự thiếu hiểu biết của mình – và những gì tôi đã giúp gây ra cho người Việt Nam. “Một phóng viên Tây Đức đã thú nhận (Uwe Siemon-Netto trong International Herald Tribune, in lại trong Encounter, Tháng 10 năm 1979): Sau khi đã theo dõi cuộc chiến tranh Việt Nam trong thời gian 5 năm cho các báo xuất bản của Tây Đức, hiện nay tôi còn bị ám ảnh bởi vai trò mà các nhà báo chúng tôi đã đóng nơi đó.

“Việc tài liệu TỐI MẬT của Hoa Kỳ đã bị đánh cắp và được xuất bản trong một thời gian khi mà những nam nữ quân nhân Mỹ vẫn tiếp tục chiến đấu, thời đó và giờ đây vẫn làm tôi kinh hoàng. Việc tiết lộ những tài liệu TỐI MẬT này, những văn thư của Ngũ Giác Đài, đã chia rẽ sự ủng hộ của các nỗ lực chiến tranh ở trong nước và do đó nó đã giúp đỡ và khuyến khích kẻ thù để giết những quân nhân Mỹ trên chiến trường.

Việc tội trạng của những người phát hành tài liệu gần như hoàn toàn được bỏ qua, và trên thực tế còn được hoan nghênh, trong khi một đột nhập vụng về cấp thấp vào các cơ quan vận động tranh cử của đảng Dân chủ đã trở thành tâm điểm của việc hạ bệ một Tổng thống đắc cử vẻ vang một năm trước đó là điều đáng kinh ngạc đối với tôi. Kết quả đó là một tàn phá đối với hàng triệu người Việt Nam tự do, những người đã đặt tin tưởng vào tay vị Tổng thống đó.. Đến ngày hôm nay chúng tôi vẫn sống với những ảnh hưởng của việc theo đuổi tội ác nhỏ nhặt này.

Tôi nhận ra rằng bây giờ phim tài liệu Chiến tranh Việt Nam của Ken Burns có vẻ như đi vào trong lịch sử như là “Tiêu chuẩn Vàng”, nhưng tôi thật sự lấy làm tiếc rằng cơ hội để hàn gắn vết thương của chiến tranh đó đã bị mất đi do hành vi thiếu sót của ông Burns và bà Novick.

Jack Heslin – The Scribe

“Chiến tranh là một điều xấu xí nhưng không phải là xấu nhất của sự vật. Những trạng thái mục nát và suy thoái của tinh thần đạo đức và yêu nước cho rằng không có gì là giá trị để có chiến tranh còn tồi tệ hơn nhiều. Kẻ không có gì để sẵn lòng chiến đấu, không có gì quan trọng hơn sự an toàn cá nhân của riêng mình, là một sinh vật khốn khổ và không có cơ hội được tự do trừ khi được thực hiện và giữ như vậy bởi những nỗ lực của những người tốt hơn hắn.”

John Stuart Mill

The Battle of Kontum

http://www.thebattleofkontum. com<http://www.thebattleofkontum.com/>

Hình tác giả: Lt. Col. John G. “Jack” Heslin (U.S.Army, retired)

Anh Thi Phan phiên dịch.

——————————————————————————————————————

Nguồn: Internet/Email, in English – Cám ơn niên trưởng Phan Văn Phúc

From:               Phan PV phucanh1@yahoo.com

Subject:            Fw: Ken Burns Vietnam War Documentary Episode 10

 

About VietNam War Documentary .

—– Forwarded Message —–
Hello, J. Patrick Garland,

Last night my wife and I watched Episode 10 of the Ken Burns Vietnam War Documentary.  It was painful for us to watch.  The scenes of the crushing destruction of South Vietnam by one of the most brutal Communist regimes in the world, at that time, was as appalling as it was when we first witnessed it in April 1975 on television.

In 1975, my wife and I decided that the only thing we could do was to offer our home to Vietnamese refugees, so we did.  We had four little children at the time, and I was an ROTC instructor at the University of Rhode Island.  We modified our house to accommodate what we thought would be a Vietnamese refugee family.  However, since we were living in Rhode Island, many Vietnamese feared the very cold winters.

In the fall of 1975 we were notified that there was a group of difficult-to-place refugees: single males who could not speak English, and we were asked to take one.  We agreed, and he arrived shortly after. Some months later, we met a second single Vietnamese man, whose sponsor had just passed away unexpectedly, leaving a wife and nine children. This man also came to live with us.  All of this started a two-year journey with Vietnamese men living in our home.

On most Sundays, my wife and I hosted a group of 6 – 8 Vietnamese men coming into her kitchen to cook their own food and spend hours talking together and sharing, with my wife, the incredible suffering they felt for the loss of their families and their country.  They shared these horrific stories with my wife; but, when in my presence, they never cried or complained. One of them eventually married my wife’s youngest sister and has been part of our family now for more than 40 years.

I am telling this story to explain the unmitigated horror we felt when we saw the most powerful nation in the world, America, stand back and watch the total destruction of a longtime ally to whom we had made “blood” commitments.  To this day, we feel that we as a nation utterly betrayed a people who had totally committed their lives and fortunes to our word; that failure in our view is a blood stain that will not be easily washed away, and it should never happen again.

My disappointment with the Ken Burns series is more in the omissions, what was not told, than the commissions, what was said..

The opening story of the Battle of Ap Bac told only one side of the story, although there are sources that could have been reviewed for a different view, namely the work of Ly Tong Ba, the young ARVN Captain who commanded the M-113 armored personal carrier company.  I have read it and heard it directly from Ba.

The report of that battle by the American press, of “the failure, incompetence and cowardliness of the ARVN military” was the first major nail in the coffin of President Ngo Dinh Diem and the beginning of years of the American Press’s derision of the ARVN forces and leadership.  The Burns documentary supported that view almost exclusively, even though there were passing affirming statements by the narrator.  On the other hand, we were listening to a “drum beat” of accolades about the bravery, tenacity, and combat skill of the Communist forces both VC and NVA.

In spite of  a brief fleeting comment, that maybe a Communist spy had tipped off the VC at Ap Bac, Burns totally disregarded the role that the Communist super spy Pham Xuan An, Colonel in the NVA, the go-to reporter for many American reporters, played in that preset ambush.  His story and his role is readily available in the open sources.

We watched in excruciating detail the battle of Ap Bac that lasted a total of 2 – 3 days and was portrayed as a great VC victory and ARVN defeat.  However, the three month long Easter Offensive of 1972, where ARVN soldiers fought with great courage and success, is covered in the documentary in a matter of a few minutes. And not once was there any mention that as the Vietnamese civilian refugees poured out of the Northern part of South Vietnam, they were under almost continuous artillery fire from the advancing NVA forces.

I know for many it was interesting to hear the detailed story of truck drivers on the Ho Chi Minh Trail, especially the women, but where was there even a single story of an American helicopter pilot?  The men who fought in the ever-present helicopters for ten years were never heard from, but the NVA truck drivers were heard repeatedly.

While I think Burns and company were respectful and did a good job in portraying the effort and final dedication of the American Vietnam War Memorial, I was disappointed that more time was not given to the incredible story of the South Vietnamese people and veterans assimilating into our country and the contributions they have made.  It is the only memorial they will ever have: their lives here and what they have given back to us, the United States of America.

Several years ago, I had General Ly Tong Ba visit my home for several days and during that stay, at his request, we had his cousin and her husband, who live not far away, come to our home for dinner.

During the dinner, the husband who had been a South Vietnamese Air Force officer told his story of coming to America as a refugee with a total of one US dollar in his shirt pocket and nothing else.  With a quivering voice he asked me point blank how we could have betrayed them and completely abandoned them on the field of battle.  General Ba looked shocked at the question as did the man’s wife.  I had no answer but to say how deeply sorry I was for the actions of our government at that time. There was no other mention of any of that during the rest of the two-hour visit we had. In fact, in all my many contacts with Vietnamese military refugees, that was the only time I have had anyone say anything negative about how they were treated by the U.S. in the end. In contrast, many have expressed their gratitude that we (the U.S.) gave them 20 more years of freedom.

I was pleased to hear the voice of the woman who had been an anti-war activist as she apologized for her actions so many years ago.  I am pleased that I have personally heard that from others; that is healing for me. Some people have truthfully acknowledged that their actions at that time were not only hurtful to those of us who served with honor but also aided the enemy during the time Americans were still fighting and dying on the field of battle.

If those members in the American Press who aided and abetted the North Vietnamese Communist government with their false reporting would finally admit their error and apologize to the American people, the South Vietnamese people, and the American Vietnam War veterans for what they did, that would represent a huge step forward in the healing process of that very painful war.  It is not without precedence that they do that; others have.

In his 1981 paper “How to Lose a War: The Press and Viet Nam” Robert Elegant gave voice to some reporters who recognized what they had done.

“During the latter half of the fifteen-year American involvement in Viet Nam, the media became the primary battlefield. Illusory events reported by the press as well as real events within the press corps were more decisive than the clash of arms or the contention of ideologies. For the first time in modern history, the outcome of a war was determined not on the battlefield but on the printed page and, above all, on the television screen. Looking back coolly, I believe it can be said (surprising as it may still sound) that South Vietnamese and American forces actually won the limited military struggle. They virtually crushed the Viet Cong in the South, the ‘native’ guerrillas who were directed, reinforced, and equipped from Hanoi; and thereafter they threw back the invasion by regular North Vietnamese divisions. Nonetheless, the war was finally lost to the invaders after the U.S. disengagement because the political pressures built up by the media had made it quite impossible for Washington to maintain even the minimal material and moral support that would have enabled the Saigon regime to continue effective resistance.”…..

“I found few American correspondents to be as tough-minded as one Briton I knew who was very close to the action for many years in the employ of an American wire-news service. ‘I’m ashamed of most of what I wrote in Viet Nam,’ he told me recently. ’But I was a new boy, and I took my lead from the Americans, who were afire with the crusading spirit of ’60s journalism—the involvement, man, in the good fight. When I look at what’s happened now, I’m ashamed of my ignorance—and what I helped to do to the Vietnamese.’

“As one West German correspondent has confessed (Uwe Siemon-Netto in the International Herald Tribune, reprinted in Encounter, October 1979):  Having covered the Viet Nam war over a period of five years for West German publications, I am now haunted by the role we journalists have played over there.”

The fact that TOP SECRET US documents were stolen and published during a time when American service men and women were still on the field of battle was then and is now appalling to me.  That release of those TOP SECRET documents, the Pentagon Papers, was divisive to the support of the war effort at home and therefore it too aided and abetted the enemy who were killing American service men on the field of battle.

The fact that the crime of those people who released the documents was almost totally overlooked and in fact applauded, while a low level, amateurish break-in to the Democratic campaign offices became the focal point of bringing down a President who had been elected overwhelmingly a year earlier is amazing to me.  The result was devastating to millions of free South Vietnamese people who had put their trust in the hands of that President.. We still live today with the effects of pursuing that petty crime.

I realize that now the Ken Burns Vietnam War documentary is likely to go down in history as the “Gold Standard,” but I truly regret that the opportunity to heal the wounds of that war have been lost through Burns’ and Novick’s acts of omission.

Jack HeslinThe Scribe

“War is an ugly thing, but not the ugliest of things. The decayed and degraded state of moral and patriotic feeling which thinks that nothing is worth war is much worse. The person who has nothing for which he is willing to fight, nothing which is more important than his own personal safety, is a miserable creature and has no chance of being free unless made and kept so by the exertions of better men than himself.”

-John Stuart Mill

The Scribe

The Battle of Kontum

 

 

Tổ chức một đại lễ của QLVNCH

www.quoctoan.com

Video cách Chào Kiếm và Một Phút Mặc Niệm đúng cách:

I – Các Chức vụ và các đơn vị của một đại lễ:

Chủ tọa buổi lễ   – Chủ Tọa – là một quan chức chính quyền, hoặc một Sĩ quan QLVNCH.

Xướng ngôn viên   – XNV – có thể là một dân sự hoặc một Sĩ quan QLVNCH.

Sĩ quan Chỉ huy buổi lễ   – SQCH – là một Sĩ Quan, với một tiểu đội danh dự  TĐDD.

Toán Quốc Quân Kỳ   – TQQK – gồm có Quốc Kỳ và Quân Kỳ  – QQK – và Toán Hầu kỳ  – Hầu Kỳ. QQK gồm có Quốc Kỳ VN, Quốc Kỳ Đồng minh, Quân kỳ QLVN – Quốc Kỳ luôn luôn ở vị thế thẳng đứng, Quân Kỳ và các lá cờ khác phải theo lệnh SQCH. Toán Hầu Kỳ gồm có it nhất 2 chiến sĩ quân phục đại lễ với súng trên vai trong suốt buổi lễ.

Ban Quân Nhạc   – QNc – Vì hoàn cảnh khó khăn, ta dùng 1 CD Quân Nhạc thay thế ban Quân Nhạc. Nhưng phải có một chuyên viên xử dụng 1 hoặc 2 CD players thành thạo.  

II – Các bài Kèn và Nhạc dùng trong đại lễ:

Kèn Nghiêm   Kèn Thượng Nghinh  –  Kèn Thượng Kỳ

Kèn Khai Quân Hiệu và Bế Quân Hiệu  –  Kèn Truy Điệu

Nhạc Hồn Tử Sĩ  –  Nhạc Quân Hành 1  –  Nhạc Quân Hành 2  –  Nhạc Quân Hành 3  Việt Nam Việt Nam

Quốc Ca (có tiếng hát):   VNCH

Quốc Thiều (nhạc hòa tấu):   Hoa Kỳ  –  Australia    Canada  –  Pháp  –  Hòa Lan

III – Diễn tiến các chi tiết của đại lễ:

Một Đại lễ luôn luôn có nhiều nghi lễ. Mỗi nghi lễ được bắt đầu bằng: XNV tuyên bố lễ nghi, SQCH hô Nghiêm và QNc tấu Kèn Nghiêm…cuối cùng là SQCH hô Thao diễn nghỉ.

Sau đây là thứ tự những nghi lễ trong một đại lễ, và các chi tiết của nghi lễ, đã được đơn giản để dễ thực hiện và phù hợp với hoàn cảnh của dân quân ta, đang sống tạm dung, xa Tổ Quốc VN.

1-Lễ rước Quốc và Quân kỳ

XNV tuyên bố: Lễ rước Quốc và Quân kỳ VNCH.

SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu  Kèn Nghiêm  

SQCH hô: Súng chào…bắt – TĐDD bắt súng chào – Hầu Kỳ súng lên vai – Cờ thẳng đứng.

d  QNc tấu  Nhạc Quân Hành  

QQK: di chuyển tới vị trí hành lễ – Khi TQQK tới địa điểm ấn định, QNc ngừng nhạc.

SQCH hô: đem súng…xuống – TĐDD hạ súng – Hầu Kỳ giữ súng trên vai – Cờ thẳng đứng.

SQCH hô: thao diễn…nghỉ – TĐDD nghỉ, Hầu Kỳ luôn luôn ở vị thế nghiêm.

2-Lễ đón vị Chủ tọa

a  XNV tuyên bố: (chức vị + tên họ) chủ tọa buổi lễ “….” đến…

SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu:  Kèn Nghiêm

c  SQCH hô: Súng chào…bắt – TĐDD bắt súng chào – Hầu Kỳ súng trên vai – Cờ thẳng đứng.

d  QNc tấu  Nhạc Quân Hành     

Chủ Tọa đi về hướng Quốc Quân kỳ, trong lúc QNc đang tấu nhạc quân hành.

Chủ Tọa đứng trước TQQK – Hầu Kỳ: bắt súng chào – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳ xuống 45 độ.

Chủ Tọa đưa tay chào Quốc Quân kỳ – QNc tấu  Kèn Thượng Nghinh

QNc dứt kèn: Chủ Tọa hạ tay xuống. QNc tấu  Nhạc Quân Hành 

 SQCH tiến tới, đưa tay mời Chủ Tọa đi duyệt hàng quân. Chủ Tọa đi doc theo TĐDD, SQCH đi theo.

k  SQCH đưa vị Chủ Tọa tới ghế danh dư nơi khán đài rồi trở về đứng trước TĐDD.

 SQCH hô: Đem súng…xuống – TĐDD hạ súng, Hầu Kỳ đem súng về vai – Cờ thẳng đứng.

m SQCH hô: Thao diễn…nghỉ – TĐDD nghỉ, Hầu Kỳ đứng thế nghiêm.

3a-Lễ Thượng Quốc kỳ VNCH (và Quốc gia Đồng Minh nếu có)

a  XNV tuyên bố: Lễ Thượng kỳ VNCH (và…..).

b  SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu Kèn Nghiêm 

c  SQCH hô: Súng chào…bắt – TĐDD và Hầu Kỳ bắt súng chào – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳ xuống 45 độ.

d  XNV tuyên bố: Lễ Thượng Kỳ bắt đầu:

e  QNc tấu  Kèn Thượng Kỳ – Trong khi kéo các lá cờ từ từ lên hết cột cờ.

f  XNV tuyên bố: Lễ Thượng Kỳ chấm dứt.

g  SQCH hô: Đem súng…xuống – TĐDD hạ súng – Hầu Kỳ đem súng về vai – Cờ thẳng đứng.

h  SQCH hô: Thao diễn…nghỉ – TĐDD nghỉ – Hầu Kỳ đứng thế nghiêm.

3b-Lễ Chào Quốc kỳ VNCH, và Quốc gia Đồng Minh

a  XNV tuyên bố: Lễ chào Quốc kỳ “Đồng Minh” và Quốc kỳ VNCH.

b  SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu Kèn Nghiêm 

c  SQCH hô: Súng chào…bắt – TĐDD và Hầu Kỳ bắt súng chào – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳ xuống 45 độ.

d  XNV tuyên bố: Quốc thiều, hoặc Quốc ca “tên quốc gia” bắt đầu – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳ trở về vị trí thẳng đứng.

e  QNc tấu Quốc thiều, hoặc  Quốc Ca Quốc Gia Đồng Minh

f  XNV tuyên bố: Quốc ca VNCH bắt đầu – QNc tấu  Quốc Ca VNCH

g  XNV tuyên bố: Lễ chào Quốc kỳ chấm dứt.

h  SQCH hô: Đem súng…xuống – TĐDD hạ súng, Hầu Kỳ đem súng về vai – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳxuống 90 độ.  

i  XNV tuyên bố: Lễ Mặc Niệm các chiến sĩ và đồng bào…..đã hy sinh ….bắt đầu.

k SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu Kèn Nghiêm 

l  SQCH hô: Súng chào…bắt – TĐDD và Hầu Kỳ bắt súng chào – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳ xuống  xuống 45 độ.

m XNV đọc lời tưởng niệm, và tuyên bố: Phút Mặc Niệm bắt đầu – QNc tấu  Nhạc Hồn Tử Sĩ

n  XNV tuyên bố: Phút Mặc Niệm chấm dứt.

o SQCH hô: Đem súng…xuống – TĐDD hạ súng – Hầu Kỳ đem súng về vai – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳ xuống 45 độ.

p SQCH hô: Thao diễn…nghỉ – TĐDD nghỉ – Hầu Kỳ đứng thế nghiêm.

4-Lễ Tiễn Quốc và Quân Kỳ

a  XNV tuyên bố: Lễ tiễn Quốc và Quân kỳ VNCH.

b  SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu  Kèn Nghiêm  

c  SQCH hô: Súng chào…bắt – TĐDD bắt súng chào – Hầu kỳ vẫn súng trên vai – Quốc Kỳ vẫn thẳng đứng, Quân Kỳ xuống 45 độ.

d  QNc tấu  Nhạc Quân Hành   

e  TQQK: di chuyển rời vị trí hành lễ – Khi TQQK rời khỏi khuôn viên buổi lễ, QNc ngừng nhạc.

f   SQCH hô: đem súng…xuống – TĐDD: hạ súng.

g  SQCH hô: thao diễn…nghỉ.

5-Lễ Truy Điệu các vị Anh Hùng Có thể tổ chức lễ truy điệu này cho một chiến sĩ VNCH.

a  XNV tuyên bố: Lễ truy điệu các vị anh hùng…cấp bậc, tên họ, đơn vị, và các chiến công…

b  SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu  Kèn Nghiêm  

c  XNV mời Chủ Tọa tiến đến vị trí cử hành lễ Truy Điệu – Chủ Tọa đoàn tiến đến đứng trước bàn thờ.

d  SQCH hô: Khai Quân Hiệu – QNc tấu  Kèn Khai Quân Hiệu

e  XNV đọc những lời truy điệu, Chủ Tọa và các thượng khách thắp nhang…xong, đứng nghiêm.

f   SQCH hô: Súng chào…bắt – TĐDD bắt súng chào – QNc tấu  Kèn Truy Điệu    

g  SQCH hô: Bế Quân Hiệu – QNc tấu  Kèn Bế Quân Hiệu     

h  XNV tuyên bố: Lễ Truy Điệu chấm dứt, mời Chủ Tọa và quan khách an tọa.

i   SQCH hô: Đem súng…xuống – TĐDD hạ súng xuống.

k  SQCH hô: Thao diễn…nghỉ – TĐDD nghỉ.

6-Lễ Trao Huy Chương cho các chiến sĩ xuất sắc

a  XNV tuyên bố: Lễ trao Huy chương cho các chiến sĩ…(cấp bậc và tên họ….)

b  SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu  Kèn Nghiêm  

c  XNV mời các …..tên họ….tiến lên vị trí hành lễ.

d  XNV mời Chủ Tọa tiến đến vị trí hành lễ – Chủ Tọa tiến đến và đứng trước các chiến sĩ xuất sắc.

e  SQCH hô: Khai Quân Hiệu: QNc tấu  Kèn Khai Quân Hiệu  

f  XNV đọc những lời khen, vị Chủ Tọa gắn huy chương….xong.

g  SQCH hô: Bế Quân Hiệu – QNc tấu  Kèn Bế Quân Hiệu  

k  XNV tuyên bố: Lễ gắn huy chương chấm dứt.

l  SQCH hô: Thao diễn…nghỉ – TĐDD nghỉ.

7-Lễ Diễn Binh

a  XNV tuyên bố: Lễ Diễn Binh của các đơn vị….

b  SQCH hô: Nghiêm – QNc tấu  Kèn Nghiêm  

c  SQCH hô: Súng lên vai…bắt – QNc tấu  Nhạc Quân Hành   

d  XNV giới thiệu từng đơn vị đi diễn hành ..v..v..v.

.

Biên soạn:

Nhạc Trưởng Vũ Tắc Toản –  www.quoctoan.com

10 lợi ích tuyệt vời khi ăn trứng gà vào bữa sáng

Hồng Thủy |

Những nghiên cứu gần đây của các chuyên gia y tế và dinh dưỡng đều chỉ ra rằng, mỗi ngày ăn một quả trứng gà có thể mang tới cho bạn sức khỏe “từ đầu đến chân”.

Thêm một quả trứng vào bữa sáng, bạn sẽ có được những lợi ích không hề nhỏ

Từ xưa đến nay, trứng gà dường như là món ăn không thể thiếu trong thực đơn hàng ngày của người Việt. Tuy nhiên liệu chúng ta có hiểu biết hết về những tác dụng tuyệt vời của trứng gà đem lại?

Ăn trứng gà vào buổi sáng mang lại những lợi ích gì?

Các chuyên gia dinh dưỡng đều nhận định, trứng gà là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, được coi là “thực phẩm dinh dưỡng toàn phần”.

Những nghiên cứu gần đây của các chuyên gia y tế và dinh dưỡng đều chỉ ra rằng, mỗi ngày ăn một quả trứng gà có thể mang tới cho bạn sức khỏe “từ đầu đến chân”.

10 lợi ích tuyệt vời khi ăn trứng gà vào bữa sáng - Ảnh 1.

Trứng gà được xem là thực phẩm dinh dưỡng toàn phần (Ảnh minh họa)

10 lý do nên ăn trứng gà vào buổi sáng

1. Bổ sung dinh dưỡng

Giáo sư Trình Nghĩa Dũng, Chủ tịch Hội dinh dưỡng Trung Quốc cho biết: Trứng gà là một thực phẩm bổ dưỡng, ngon lành tự nhiên nhất, giá thành rẻ, nhưng lượng protein cao gấp hai lần hải sâm.

2. Giảm mỡ máu

Trong trứng gà có chứa chất lecithin vô cùng quý hiếm, chất này có tác dụng giúp tuần hoàn thanh lọc các chất mỡ có trong cơ thể, hỗ trợ giảm mỡ máu.

3. Ngăn ngừa bệnh tim

Phó giáo sư Phạm Chí Hồng, Học viện Thực phẩm Đại học Nông nghiệp Trung Quốc cho biết, thành phần chủ yếu trong lòng đỏ trứng gà là chất béo không bão hòa đơn và axit béo.

Trong đó hơn một nửa là axit oleic (omega 9) – thành phần chính của dầu oliu. Chất này có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim.

4. Thanh nhiệt, bổ máu

Theo y học, trứng gà còn là thực phẩm có khả năng “cân bằng” độc đáo. Trong “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân cũng chỉ rõ, lòng trắng trứng gà tính hàn có tác dụng thanh nhiệt.

Bên cạnh đó, lòng đỏ trứng gà tính ôn, giúp bổ huyết, các tác dụng đó ngang với chất gelatin.

5. Bảo vệ thị lực

10 lợi ích tuyệt vời khi ăn trứng gà vào bữa sáng - Ảnh 2.

Trứng gà có đến 10 lợi ích với sức khỏe (Ảnh minh họa)

Hai chất lutein và zeaxanthin có trong lòng đỏ trứng gà là hai chất chống oxi hóa cực kỳ hữu hiệu, bảo vệ thị lực tránh khỏi các tác nhân gây hại của tia cực tím.

6. Bảo vệ gan

Chất protein trong trứng gà có tác dụng hồi phục tổn thương của tế bào gan. Chất lecithin trong lòng đỏ có tác dụng thúc đẩy quá trình tái sinh của tế bào gan, nâng cao khả năng chuyển hoá và miễn dịch của cơ thể.

7. Phòng và điều trị xơ vữa động mạch

Các chuyên gia y tế và dinh dưỡng Mỹ đã tiến hành một cuộc thử nghiệm về phòng và điều trị xơ vữa động mạch từ trứng gà.

Họ trích xuất chất lecithin có trong trứng gà, quả óc chó, mỗi ngày cho người mắc bệnh tim mạch ăn 4 -6 thìa canh. Khoảng ba tháng sau, lượng cholesterol trong máu của người bệnh giảm đáng kể.

8. Phòng ngừa ung thư

Trong trứng gà rất giàu vitamin B2 và nhiều khoáng chất như nguyên tố vi lượng selen. Những chất này đều có tác dụng chống ung thư.

9. Làm chậm quá trình lão hóa

Trứng gà có chứa hầu hết các chất dinh dưỡng mà cơ thể chúng ta cần. Vì thế theo kinh nghiệm dân gian, để kéo dài tuổi thọ chúng ta nên ăn một quả trứng gà mỗi ngày.

10. Ngăn chặn bệnh mất trí ở người già

Chất lecithin và sắc tố vàng trong lòng đỏ trứng gà rất có lợi đối với sự phát triển của hệ thống thần kinh và cơ thể. Nó có tác dụng tăng cường chức năng lão, cải thiện trí nhớ và ngăn chặn chứng mất trí ở tuổi già.

Nên ăn trứng gà bao nhiêu là đủ?

10 lợi ích tuyệt vời khi ăn trứng gà vào bữa sáng - Ảnh 3.

Người bình thường chỉ nên ăn mỗi ngày một quả trứng là đủ (Ảnh minh họa)

Các chuyên gia cho biết, do cơ chế hấp thụ dinh dưỡng của cơ thể mỗi người khác nhau nên số lượng trứng gà mỗi người có thể ăn trong một ngày cũng khác nhau.

Trẻ em, phụ nữ mang thai và đang cho con bú, người vận động nhiều, do nhu cầu protein cao hơn so với người thường nên mỗi ngày có thể ăn từ 1- 2 quả trứng gà.

Người lớn bình thường, người cao tuổi, mỗi ngày có thể ăn 1 quả trứng gà.

Đối với bệnh nhân rối loạn lipid máu hoặc người béo phì, mỗi tuần chỉ nên ăn từ 2 – 4 quả trứng gà.

Nên ăn trứng gà thế nào để hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng nhất?

Đối với trứng gà thì các cách nấu cũng rất đơn giản, như luộc, xào, rán, kho đều được.

Trứng luộc và canh trứng là dễ tiêu hóa nhất, rất thích hợp cho trẻ em, người già và người bệnh.

Đối với món trứng xào thì cần chú ý đến nguyên liệu kèm theo. Thành phần dinh dưỡng trong trứng gà vốn thiếu vitamin C. Vì thế muốn món ăn đủ dinh dưỡng chúng ta xào trứng với cà chua, ớt xanh để bổ sung loại vitamin này .

Trứng luộc cũng là một lựa chọn hoàn hảo, nếu như cảm thấy món ăn đơn điệu thì có thể dùng trứng đã luộc chín cắt miếng cho vào salat.

Không nên ăn nhiều món trứng rán ở nhiệt độ cao, bởi cách chế biến này không tốt cho sức khỏe.

*Theo TouTiao