3. Hải Quân

Phóng sự ngắn: “Tiệc Tất Niên 2016 của gia đình Hải quân Oregon và Vùng phụ cận”

Cơn bảo tuyết mùa đông năm nay (2016) thật lớn. Tuyết phủ dầy cả Portland, Vancouver và Longview. Bảo tuyết đã ngưng từ sáng thứ Năm, nhưng kéo theo những ngày sau đó nhiệt độ vẫn còn dưới 33 độ F. Tuyết không tan và phủ đầy lối đi, đường xe hơi chạy vẫn còn nhiều nguy hiểm, trơn trợt. Tuy thời tiết khắc nghiệt như vậy nhưng buổi tiệc Tất Niên của Hải quân Oregon, Vancouver và Long View vẫn được diễn ra thật ấm áp và thân tình bên trong nhà hàng HK Café với nhiều chiến hữu HQ và gia đình lội tuyết đến tham dự (có 8 người ghi danh nhưng phải gọi phone cho biết không thể lái xe đến tham dự được).

.
Tôi đến khá trể vì phải di chuyển bằng xe bus. Sau này nghe HQ Nguyễn văn Đông kể lại buổi tiệc được khai mạc với lời cám ơn của anh Đông, trưởng ban tổ chức đến qúy hải quân và gia đình hiện diện. Tiếp theo, Niên trưởng Trương Hữu Quýnh đại diện mọi người trong bàn tiệc cám ơn ban tổ chức đã tạo điều kiện cho gia đình hải quân có dịp gặp gở và hàn huyên vào dịp cuối năm. Niên trưởng Quýnh cũng không quên thực hiện một phút im lặng để tưởng niệm các chiến sĩ hải quân và những chiến binh VNCH khác đã hy sinh trong trận Hải chiến Hoàng Sa 19/1/1974, trận chiến oai hùng và bất khuất chống quân xâm lược trong lịch sử cận đại của dân tộc Việt.

.
Đề cử Tân Hội trưởng và Hội phó:

Thức ăn được dọn ra, HQ Trương Hữu Quýnh, HQ Võ Văn Á và HQ Hà Đức Bảng kêu gọi tôi và HQ Nguyễn văn Đông cố gắng duy trì sinh hoạt của hải quân Oregon và vùng phụ cận thường xuyên hơn. Qúy vị này cho biết sẽ sẳn sàng cố vấn và yễm trợ mọi sinh hoạt của hải quân hết mình.

.
Tuy nhiên, tôi đã từ chối làm đại diện cho Hải Quân Oregon và vùng phụ cận và sẽ tiếp tục hổ trợ hải quân hết mình.
Đồng thời tôi cũng thông báo là tôi cũng đã từ nhiệm làm đại diện Hải Quân vùng Tây Bắc Hoa Kỳ vì lý do những năm gần đây Ban Chấp Hành Tổng Hội Hải Quân VNCH gần như không còn hoạt động. Vã lại tôi rất bận cho các công tác của Ban Chấp Hành Cộng Việt Nam Oregon, Hội Cựu Quân Cán Chính VNCH/ Oregon và nhiều hoạt động khác.

.
Sau đó, tôi đã đề cử HQ Nguyễn văn Đông là Hội Trưởng và HQ Huỳnh Văn Nguơn là Hội Phó. Tôi sẽ sẳn sàng phụ giúp hội khi cần. Đề nghị của tôi đã được mọi người chấp nhận.

.
Như vậy kể từ ngày 14 tháng 1 năm 2017, Hội Hải quân Oregon và vùng phụ cận có:
– Tân Hội Trưởng: HQ Nguyễn Văn Đông
– Tân Hội Phó: HQ Huỳnh Văn Nguơn.
Xin chúc mừng qúy vị tân cử và tôi sẽ thông báo kết qủa chánh thức này đến Cộng Đồng và các Hội đoàn tại tiểu bang Oregon.

.
Buổi tiệc kéo dài đến tận 11 giờ đêm trong men tình kỷ niệm và gắn bó của những chàng trai nước Việt với một thời làm lính thủy.

.
Tài chánh:

– Chị Đông cho biết số tiền của các HQ tham dự tiệc Tất Niên đóng góp, sau khi trừ chi phí nhà hàng còn dư lại $ 220.
– Tôi sẽ chuyển giao cho Tân Hội trưởng Nguyễn văn Đông số tiền $270 còn lại trong kỳ quyên góp “đăng báo Phân Ưu” Thân Mẫu của HQ Huỳnh văn Nguơn.
Như vậy quỹ của Hội HQ hiện tại là $ 490.00

.
Chúc mừng.
HQ. Phạm quốc Nam

 

HẢI QUÂN HÀNH KHÚC 1969

NGUYEN_HUU_CHI_548

Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí (K7/NT), tác gỉa bản Hải Quân Hành Khúc năm 1969, thay thế Hải Quân Hành Khúc của Văn Cao.

Kính thưa quý chiến hữu Hải Quân VNCH

Chúng tôi nhận thấy thời gian gần đây trong các buổi lễ do Hải Quân tổ chức cũng như trên các website có 2 bài Hải Quân Hành Khúc (HQHK). Điều này gây tranh cãi trong hải quân và làm không ít quý vị gia nhập Hải Quân trước năm 1969 thắc mắc.

– Một bài khởi bằng lời (trước kia) :”Toán chiến sĩ hải quân ra khơi hôm nay…..Bờ nước Nam….”

http://lyric.tkaraoke.com/10310/bai_ca_chien_si_hai_quan.html

– Một bài khác khởi bằng lời (sau này): “Bao người con trai..kiêu hùng……cùng nhau tách bến…..”

https://www.youtube.com/watch?v=BpSYaBp8NXU

Thưa qúy vị,

Tôi gia nhập vào Khóa 21/SQHQ vào giửa năm 1969. Tại Bạch Đằng II, chúng tôi đã được học thuộc bài ca HQHK bằng lời khởi đầu: “ Bao người con trai..kiêu hùng……cùng nhau tách bến….”. Mỗi sáng sớm sang bên đường đối diện Bạch Đằng II tập cơ bản thao diễn đi đều bước cũng hát bài hải HQHK: “Bao ngươì con trai…”.

Cuối tháng 12 năm 1969, tài nguyên K.21/SQHQ cộng thêm khoảng 2 trung đội của Khóa 22/SQHQ, nâng tổng số trên 530 SVSQ/HQ được BTL/HQ đưa lên Quang Trung thụ huấn Căn bản Quân sự. Thời gian chúng tôi tại Quang Trung, khi di chuyển ra bải tập chúng tôi cũng hát bài ca HQHK: “Bao người con trai….”. Chúng tôi có biết bài HQHK: “ Toán chiến sĩ hải quân ra khơi hôm nay…..Bờ nước Nam….”, nhưng KHÔNG được hát bài này. Không biết bản HQHK “Bao người con trai…kiêu hùng…” này đã áp dụng từ Khóa 20/SQHQ hay không?

Sau này, chúng tôi được biết bài hát HQHK: “Bao người con trai…kiêu hùng….cùng nhau tách bến…” do Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí (tức nhà thơ Hữu Phương) sáng tác để thay thế bài HQHK của Văn Cao: “ Toán chiến sĩ hải quân ra khơi hôm nay…..Bờ nước Nam….”, bắt đầu vào năm 1969, thời điểm BTL/HQ đang tuyển Khóa 21 và 22/SQHQ. Do đó từ năm 1969 trở về sau, Hải Quân VNCH sử dụng bài hát HQHK của ĐĐ Nguyễn Hữu Chí. Sở dĩ tôi dài dòng như vậy để làm nhân chứng cho một sự kiện. Tin hay không thì tùy quý vị tìm hiểu riêng.

Dưới đây tôi xin mượn bài phân tích hai bài HQHK của HQ. Nguyễn Trần Đàm (K.6/OCS, Hội Trưởng Hội Hải Quân Houston, TX), là bạn cùng tài nguyên Khóa 21SQHQ với tôi:

1-      Bản:

“Bao người con trai kiêu hùng cùng nhau tách bến

Ra khơi mênh mông sóng to gió mưa không sờn

Ta là chiến sĩ của trùng dương muôn sức sống

Hiên ngang ra khơi giữ vững cõi bờ Việt Nam

Làm trai gắng noi theo dấu anh hùng cường quyết một lòng

Đường trường xa bền tay lái

Một lòng tin, tin tương lai

Trùng dương xanh bao la

Trời cao mây vương xa

Hồn theo sóng với nước tới chân trời xa”

Toàn bản nói lên sự oai hùng, lòng yêu nước, hy vọng một ngày mai tươi sáng.

2-      Bài “Toán chiến sĩ hải quân ra khơi……” do nhạc sĩ Văn Cao sáng tác khoảng năm 1945, khi đó chưa có Hải Quân VNCH, cũng chưa có Hải Quân Quân Đội Nhân Dân Việt Cộng.

Toán chiến sĩ thủy quân ra khơi hôm nay

Bờ nước Nam gió khơi nồng máu say

Ra đi không vương thê nhi

Miền Bắc núi tuyết rét mướt

Quen vui trong muôn phân ly

Sống trên ngàn trùng sóng

Thân phơi trên Nam Băng Dương

Nước xanh hồn Thái Bình Dương

ÐK:

Xa khơi sóng vang dạt dào

Mênh mông sóng va thân tàu

Nghe âm u … u …. u ….

Át tiếng máy rầm rầm

Quân ca theo trầm trầm, tàu nhấp nhô

Mờ mờ xa mây mù

Dần dần xa mây mù

Ði cho quên bến bờ

Xa khơi trùng dương bát ngát

Ngày về tổ quốc ghi tên

Hướng tới ánh hải đăng soi trong đêm sương

Ðoàn chúng ta chí tang bồng bốn phương

Thi gan trong cơn phong ba

Tàu thét khói lướt gió tiến

Khi trăng trên boong in phơi

Giấc mơ người ngàn ngàn bến

Xông pha chung quên đau thương

Với gia đình lớn Trùng Dương

(trở lại ÐK)

Quyết chiến thắng thủy binh ngăn quân xâm lăng

Hồn Yết Kiêu, máu sông Ðằng nhớ chăng ?

Say men năm châu tha phương

Ðời khát máu, khát gió mới

Tay tung bao thây yêu thương

Xuống chôn vùi mồ cá !

Hy sinh sao nêu cao gương

Nước Nam miền Thái Bình Dương

– “Bờ nước Nam gió khơi nồng máu say”

Hải Quân VNCH sao lại say máu?

– “Miền Bắc núi tuyết rét mướt”

Hải Quân VNCH sao lại từ miền Bắc núi tuyết rét mướt?

– “Thân phơi trên Nam Băng Dương”

Có quý vị nào đã tới nam băng dương?

– “Đời khát máu, khát gió mới”

Hải Quân VNCH khát máu?

Nói tóm lại, bản “Toán chiến sĩ thủy quân ra khơi” nên để cho Hải quân Việt cộng hát thì đúng hơn. Họ từ miền Bắc núi tuyết rét mướt xâm nhập xuống miền Nam, say máu, khát máu, láo khoét, đi chiến đấu phơi thây tận Nam Băng Dương. (HQ Nguyễn Trần Đàm – Houston ngày 23 tháng 9 năm 2015).

Thật vậy, xin mời quý vị nghe “Bài ca chiến sĩ Hải Quân” trong một website của Việt cộng như là bài hát mà quý chiến hữu Hải quân VNCH của chúng ta vẫn thường hát:

http://www.funnydog.tv/video/bai-ca-chien-si-hai-quan/jSgKm29mnJM

.

HQ. Phạm quốc Nam

…………………………………………………………………..

Kỷ niệm thời quân ngũ “Công Tác Hà Tiên”

HQ. Phạm Quốc Nam và Hạ sĩ HQ. Nguyễn văn Tám (Tám rổ)

HQ. Phạm Quốc Nam và Hạ sĩ HQ. Nguyễn văn Tám (Tám rổ)

 

HQ. Phạm Quốc Nam

Trời vừa hừng sáng, toán xung kích đã trang bị gọn gàn, đầy đủ súng đạn và tụ tập dưới bến tàu của Duyên đoàn 44 Hà Tiên. Đằng kia, chiếc PCF của Trung úy Các (K.19) đã nổ hai máy sẳn sàng. Sau khi trung úy Các điều động xong nhân viên PCF cột 3 chiếc xuồng nhỏ kéo theo sau lái. Thuyền trưởng Các gọi tôi:

– Ê! xong chưa Nam?

Tôi ra dấu cho Trung úy Các, nói lớn:

– Chờ mấy thằng Seal xuống là go.

Không đầy 5 phút sau, Đãi úy Smith và một US Navy Seal khác mang máy PRC-25 từ phía trên cầu tàu chạy lụp xụp xuống bến. Hai thằng Seal mặc bà ba đen, mang dép râu, mặt mũi bôi lọ vằn vện màu xanh đỏ, dây đạn M.16 quấn trên vai với hai khẩu M.16. Trông thấy cả hai Navy Seal thật xom tụ như các tài tử đóng phim Rambo. Lần nào đi công tác, mấy thằng Seal cứ màu mè như thế. Nhưng đến vùng, họ ở dưới tàu và chỉ có bọn chúng tôi lần vào ‘victor tango’.

Tôi ra dấu cho cả toán, vừa nhảy xuống sàn lái PCF và nói to với thuyền trưởng Các:

– OK! Let’s go.

Trung úy Các thò đầu ra cửa phòng lái:

– Đủ chưa Nam?

Tôi gật gật đầu:

– OK! Đủ rồi.

Chiếc PCF tách bến hướng mũi vào sông Giang Thành. Tôi vào phòng lái gặp thuyền trưởng, Trung úy Các:

– Niên trưởng Các. Mình ghé Trà Phô ăn sáng.

Trung uý Các:

– OK! Được Nam.

Một lát sau, tàu đến Trà Phô. Chúng tôi lên chợ và tấp vào cái quán bán hủ tiếu quen thuôc, nằm cạnh bờ sông. Sáng sớm, con sông còn đang bốc hơi mùi tanh tanh, càng làm cho mùi hủ tiếu dậy mùi hấp dẫn. Mùi thơm quen thuộc mỗi lần ghé lên Trà Phô trên bờ sông Giang Thành. Mặc dù đó là quán hủ tiếu bình dân của nhà quê như Trà Phô này, nhưng mấy mươi năm ở Mỹ, tôi chưa tìm lại được mùi thơm của hủ tiếu quyến rũ như thế, ở bất cứ nhà hàng nào. Nói chi đến hương vị của nó. Tôi thắc mắc ở Mỹ đầy đủ nguyên vật liệu để nấu hủ tiếu, nhưng không thể nào và không có quán tiệm nào nấu được một tô hủ tiếu có hương vị đặc sắc của tô hủ tiếu như ở Việt Nam, dù là hủ tiếu bình dân rẻ tiền như nơi nhà quê. Tô hủ tiếu chỉ có vài lát thịt heo mỏng, ít tép mở, một nhúm nhỏ cải bấp thảo khô và vài cọng hẹ tươi với hành lá. Thế mà ngon tuyệt!

Đớp sạch tô hủ tiếu và uống cạn ly cà phê sửa nóng. Chúng tôi no bụng, tươi tỉnh ra và kéo nhau trở về tàu. Hai thằng seal cũng no ké. Chiếc PCF tách bến chạy ra giửa dòng sông và hai máy tiến full vào vùng công tác. Hơn nữa giờ sau, tôi dò theo bản đồ và nói Trung uý Các cho PCF ủi vào lùm cây gần cửa một con rạch nhỏ, không xa lắm với con kinh Vĩnh Tế. Toán của tôi chỉ có 7 người. Tôi đã cho hai nhân viên đi phép. Chúng tôi chia nhau xuống ba chiếc xuồng nhỏ được PCF kéo theo.

Trước khi trèo xuống chiếc xuồng của Hạ sĩ Tám rổ, nhân viên mang máy truyền tin PRC-25. Tôi hỏi hai thằng navy

US Navy seal

US Navy seal

seal:

– Tụi mầy vào không?

Thằng Smith, rất thích đi công tác và nhậu ruợu đế ở quán cô Lệ góc cây me với tôi. Hắn lắc đầu, ra dấu ngón tay cái ‘Number one’ và đẩy ra phía chúng tôi:

– Tụi mày vào đi. Tụi tao ở ngoài. Nếu tụi mày bên trong có đụng, tao gọi yểm trợ hay trực thăng nhanh hơn.

Tôi cố ý hỏi để chọc họ chơi vậy thôi. Chứ đi nhiều chuyến công tác rồi, có khi nào mấy thàng seal này theo chúng tôi vào điểm kích.

Các chiếc xuồng bằng vật liệu thật mỏng nhẹ, rất hẹp và ngắn, chỉ ngồi được hai hoặc ba người. Chúng tôi bơi vào rạch. Chiếc xuồng di chuyển bằng cách níu các chòm cỏ dại hoặc cành cây nằm ven bờ rạch hay chống tay vào bờ đẩy xuồng tiến về phía trước. Các xuồng tiến vào sâu trong rạch. Đến vị trí kích, tôi cho xuồng trải ra xa và im lặng ngồi kích trên xuồng. Cảnh vật chung quanh thật tĩnh mịch. Thỉnh thoảng có bầy bù mắt kéo bay qua. Tiếng con cá nhỏ đớp mồi dưới mé rạch, chúng tôi cũng nghe thấy được.

Chờ đợi, rồi chờ đợi….Mặt trời đứng bóng….rồi ngã từ từ về tây….Xế trưa, mọi cảnh vật vẫn im lìm, không động tịnh. Tiếng rè rè của chiếc máy truyền tin vào xế trưa càng nghe như rỏ hơn…..Tôi nhìn đồng hồ tay thấy vừa đúng ba giờ chiều. Chúng tôi ngồi yên dưới xuồng kích đã hơn 5 tiếng đồng hồ. Không thấy bóng ma thằng kinh tài VC nào đi qua đây như tình báo đã đưa tin. Tôi báo cáo tình hình về phòng hành quân và xin lệnh rút ra tàu.

Bên kia đầu máy, Trung uý Nguyễn Văn Tràng (K.19):

– Ráng một chút nữa Nam. Đến 4 giờ không có gì thì rút.

Tôi nói ‘Ok’. Thời gian trôi qua chầm chậm như đi theo cây kim gió của chiếc đồng hồ đeo tay. Tôi nghe rỏ cả tiếng kêu tích tắc ở giửa cái không gian trầm lặng như tờ giửa rừng đước. Đúng 3:45 chiều, tôi ra dấu tập trung xuồng lại, chuẩn bị rút….

‘Xoạt’…..tiếng kêu xoạt trên bờ cách con rạch khoảng 10 mét làm chúng tôi giật mình. Cả bọn chúng tôi cùng hướng mắt vào nơi phát ra tiếng động. Với phản ứng tức thì, chúng tôi cùng đưa nòng súng vào tầm bắn. Một thằng nhỏ khoảng 10 tuổi vừa vạch bụi cây, chui lẹ ra ngoài và đâm đầu bỏ chạy vào trong rừng đước; Trung sĩ Nhàn định bóp cò nhưng tôi nhanh hơn:

– Đừng bắn! Đừng bắn! Nó là thằng con nít.

Trong nháy mắt, thằng VC con chạy biến mất trong khu rừng đước. Trung sĩ Nhàn ngạc nhiên:

– Ủa! Sao không bắn nó…Chuẩn úy?

Tôi lắc đầu:

– Mình có bắn thằng nhỏ thì bên trong mấy thằng VC nghe tiếng súng cũng đã bỏ chạy mất mẹ nó rồi. Có bắn chết hay bắt sống thằng VC con thì cũng không bắt được mấy thằng VC bên trong. Vã lại mình lại không được lệnh rời điểm kích đi sâu vào trong bờ.

Tôi tặc lưỡi:

– Cha nó. Bọn VC độc ác đến thế là cùng. Dùng thằng con nít làm bia báo động….Thôi rút về tàu anh em.

Trước khi rời điểm kích, tôi kêu Hạ sĩ nhất Châu văn Năm thẩy vào trong sâu vài trái M.79 và báo cho PCF và hai thằng seal bên ngoài biết chúng tôi đang trở ra tàu.

PCF đưa chúng tôi về đến bến tàu dưới ánh nắng buổi chiều buông.

Đó là chuyến công tác lần thứ mười một khi tôi làm trưởng toán xung kích. Đúng ra công tác của chúng tôi là đi thám sát, đổ bộ lên nơi sensor của khu vực nào có tín hiệu báo động để quan sát hay thu thập nguyên nhân làm cho sensor phát tín hiệu. Dãy sensor được cày đặt dọc biên giới Việt – Miên. Công tác bất kể ngày đêm, cứ sensor có báo động là chúng tôi được đưa đến. Tuy nhiên thỉnh thoảng phải đi công tác cho tình báo như phục kích bắt kinh tài hay cán bộ VC được kể bên trên. Không biết do tình báo của Hải quân Việt Nam hay của Hoa Kỳ yêu cầu.

Tôi và hai thằng bạn khác trong số 15 thằng mới ra trường về Vùng 4 Duyên Hải, bắt thăm về Duyên đoàn 41. Tôi không may mắn như Tuyên và Ninh được thay phiên nhau đi công tác hành quân ở Năm Căn (Vùng 5 Duyên Hải), tôi bị đơn vị trưởng là một đại úy gốc bộ binh chuyển sang hải quân đì hết sức. Nhiều lúc đối diện đấu võ mồm với ông ta làm cho tôi muốn điên lên. Tôi gần như bị ông ta giam lỏng tại hậu cứ của Duyên đoàn 41 trên hải đảo Giáng Tiên (Hòn Khoai – Poulo Obi). Ngày xưa tôi nghĩ đơn giản là tôi không họp ‘gu’ với ông ấy nên bị ‘đì’. Nhưng sau 30/4/1975 tôi được biết những vụ bất ổn xảy ra trong đơn vị chính do tên VC nằm vùng đội lớp sĩ quan hải quân của duyên đoàn gây nên mà bấy giờ tôi chỉ nghĩ hắn chỉ là tên antenna cho đơn vị trưởng mà thôi. Câu chuyện của tôi và đơn vị trưởng đã đến tay Tư lịnh vùng. Nhân chuyến thị sát bờ biển phía Nam của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và HQ Đại Tá Đỗ Kiểm, Tư Lịnh Vùng 4 Duyên Hải ghé Duyên đoàn 41, qua tin tức của Chuẩn úy Trần Công Nhuận thay thế Thiếu úy Nguyễn Phúc Kha, tùy viên Tư Lịnh Đỗ Kiểm được tháp tùng theo chuyến bay, cho tôi biết tôi đã có công điện gọi về Bộ Tư Lịnh Vùng. Biết được tin này và được TL. Đỗ Kiểm đồng ý, tôi cuốn gói lẹ theo trực thăng của Tướng Ngô Quang Trưởng, gĩa từ hải đảo Giáng Tiên trở về Bộ tư Lịnh vùng. Ngày hôm sau, tôi trình diện TL. Đổ Kiễm để lảnh 8 ngày trọng cấm. Một tháng sau, tôi được biệt phái cho đơn vị Tác Chiến Điện Tử của Hoa Kỳ tại Hà Tiên.

Chuyến công tác đầu tiên của tôi khi được biệt phái đến đây là dẫn toán xung kích thám sát một khu vực sensor báo động nằm sâu trong bờ, gần biên giới Việt – Miên vào giửa đêm khuya. Chúng tôi đến nơi và ghi nhận có một đơn vị của VC đang di chuyển. Chúng tôi được lệnh theo dõi đoàn quân của VC đang di chuyển này. Khi đoàn quân của địch biến mất vào sâu trong lãnh thổ của Miên, chúng tôi được lệnh rút về tàu. Mặt tôi vài nơi sưng vù vì bù mắt cắn, mặc dù tôi có mang theo thuốc thoa da và lưới trùm kín mặt.

Sáng hôm sau, chúng tôi lại được đưa trở lại điểm kích khuya hôm qua để thám sát và ước tính quân số của địch quân di chuyển. Nhân dịp này, chúng tôi đi sâu vào lãnh thổ của Miên. Dọc biên giới, xa xa mới có một căn nhà lá. Bấy giờ trời nắng gắt, cả bọn khát nước nên chúng tôi ghé tạt vào một ngôi nhà gần nhất, có vách bằng đất và mái nhà lợp bằng lá dừa. Sân nhà thật rộng, có hàng cây dừa cao thẳng tắp và nhiều cây xoài đang độ xum xuê, đầy trái chín (xoài mọi nhỏ trái nhưng rất ngọt). Vừa vào đến giửa sân, có một ông gìa người Miên trong nhà lom khom đi ra chào đón. Ông ta không nói được tiếng Việt. Chúng tôi ra dấu bằng tay, ông ta hiểu ý chúng tôi muốn xin vài trái dừa tươi để uống và ít trái xoài mọi ăn giải khát. Ông già vui vẻ chỉ trỏ như muốn nói tự nhiên hái lấy mà ăn. Tuy nhiên, chúng tôi biết xâm nhập qua đất Miên là trái phép, nên tôi bày kế cho Hạ sĩ Lưu Ban, nhân viên người Việt lai Miên trong toán xung kích biết nghe và nói được tiếng Miên sành sỏi:

– Lưu Ban. Anh nói tụi mình là lính Pôn Pốt nha. Đừng cho ông ta biết tụi mình là hải quân dưới tàu.

Không biết Lưu Ban nói gì với ông gìa. Chúng tôi thấy ông ta nhe hàm răng rụng gần hết, cười và quơ bàn tay như không tin lời Lưu Ban, miệng cứ nói: “Marine…Marine…”. Tay kia ông ta chỉ về hướng tàu đang ủi bên dưới bờ sông ngoài kia.

Tôi hiểu ra mấy tiếng ‘Marine…Marine” của ông cụ:

– Thôi Lưu Ban. Ông gìa biết mình là hải quân rồi. Không gạt được ổng đâu.

Lưu Ban không gạt ông lão nữa và cả hai quay ra nói chuyện chi đó. Một hồi ông gìa chỉ bầy gà đang kiếm mồi trước cửa nhà. Chúng tôi hiểu ông gìa cho Lưu Ban con gà. Lưu Ban chạy lẹ khom người xuống chụp một con gà trong bầy. Nhưng Lưu Ban chụp hụt làm bầy gà bỏ chạy tứ tán. Có một con gà mái chạy thẳng vào bên trong nhà. Lưu Ban rượt theo. Ông gìa như hốt hoảng chạy theo sau. Thấy phản ứng lạ lùng của ông gìa, tôi đi nhanh theo vào nhà. Vừa vào đến phòng bên trong, ông gìa thấy tôi xuất hiện, ông ta quỳ sụp xuống và lạy lia lịa làm tôi càng sanh nghi, nhìn quanh:

– Lưu Ban đừng bắt gà nữa. Khám xét mấy cái khạp lớn coi bên trong có cái gì không?

Ông gìa hình như hiểu lời tôi nói. Ông ta càng lạy và miệng nói lấp bắp như van xin điều chi đó. Sát vách nhà có mấy cái khạp to đậy nấp ván. Các khạp đựng nước uống và có cái đựng thóc, lúa. Lưu Ban đến giở nấp cái khạp cuối …một cô gái trẻ trong khạp đứng thẳng lên làm tôi và Lưu Ban giực nẩy người. Cô gái Miên độ chừng 16 hay 17 tuổi đứng thẳng, hai tay che trước ngực run lẩy bẩy. Mặt cô bé tái xanh không còn chút máu, như muốn khóc, trong khi ông gìa cứ hướng về phía tôi sụp lạy như tế sao.

Bấy giờ tôi và Lưu Ban hiểu ra cử chỉ van xin của ông gìa Miên. Tôi nói:

– Lưu Ban nói với ông gìa tụi mình không có làm bậy bạ gì cô gái kia đâu. Đừng sợ!

Lưu Ban thông dịch lại. Ông gìa mừng qúa. Ông ta hướng về tôi xá thêm vài xá và kéo tay Lưu Ban ra phía sau nhà. Tôi nhìn theo. Sau nhà là cái chuồng heo. Tôi trở ra ngoài ngồi với mấy anh em ngoài sân. Chúng tôi đợi Lưu Ban. Chưa đốt xong nữa điếu thuốc captain, Lưu Ban từ cửa nhà bước ra với một con heo mọi nhỏ xíu (heo con) kẹp bên hông. Ông gìa  vui vẽ và trở nên thân thiện hơn, đi theo phía sau Lưu Ban nói liên tu, mà chúng tôi chẳng hiểu gì cả.

Lưu Ban hí hửng:

– Chuẩn úy ơi! Ông gìa cho con heo sữa.

Vài anh em khoái chí:

– Thiệt hả Lưu Ban?

Lưu Ban ra dấu chắc ăn và chỉ ông già đi sau đang cười toe toét, gật gật đầu:

– Thiệt mà.

Nắng trưa cũng đã đứng bóng. Chúng tôi cám ơn ông gìa Miên và kéo nhau trở về tàu. PCF về đến bến. Chúng tôi rời bến tàu và trở về bản doanh. Chiều tối hôm đó, chúng tôi có một chầu nhậu đã đời với thịt heo quay, da mỏng dòn rụm và lòng heo luộc chấm nước mấm cay, dầm me. Tuyệt cú mèo!

Đơn vị Tác chiến Điện Tử của Hoa Kỳ tại Hà Tiên được đặt trong căn cứ của Duyên đoàn 44. Toán xung kích của chúng tôi không trực thuộc Duyên đoàn. Lúc ấy CHT Duyên đoàn 44 là HQ Thiếu Tá Nguyễn Khoa Lô (K.13), CHP là HQ. Trung úy Phạm Xuân Kha (K.14) và Trung úy Tình báo Nguyễn Văn Lang (Lang say – K.16). Giửa cố HQ Thiếu tá Nguyễn Dinh K.13, Cựu Liên đoàn Trưởng LĐ/SVSQ/HQ/NT, niên trưởng Lang và tôi có nhiều gắn bó ở trại tỵ nạn Bataan – Philippines vào đầu năm 1986. Nhất là niên trưởng Lang và tôi có một thời với lắm kỷ niệm vui. Tại Duyên đoàn 44, tôi còn gặp số bạn cùng khóa.

Toán xung kích của chúng tôi biệt lập với Duyên đoàn 44 nên Thiếu tá Nguyễn Khoa Lô, Chỉ huy trưởng Duyên đoàn không có ý kiến gì khi chúng tôi muốn ở bên ngoài căn cứ. Chúng tôi thuê nhà riêng cách chợ Hà Tiên một con đường và gần bến ghe đánh cá. Đương nhiên lính tráng được ở ngoài căn cứ thì được tự do, thoải mái qúa đi chứ. Chúng tôi còn thuê một căn nhà cho nhân viên ở chung và dùng nơi đó làm bản doanh để tập họp, cất vũ khí và máy truyền tin. Dân Hà Tiên cũng như các thứ lính khác như Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Cảnh Sát v.v…, có thể họ biết chúng tôi là hải quân nhưng không biết chúng tôi thuộc đơn vị nào. Chúng tôi thích gì mặc nấy khi đi công tác. Phần lớn anh em thích mặc đồ rằn ri nylon vì có nhiều chuyến công tác phải lội qua những con rạch lớn hay ngâm mình dưới đầm lầy nhiều giờ. Với vải nylon khi lên bờ chỉ một chút có gió và nắng là áo quần khô ngay. Súng ống thì đủ loại như M16, phóng lựu M.79, trung liên M.60, lựu đạn K3, lựu đạn mãng cầu (miểng), trái khói v.v…Anh em vác vũ khí đi lờ ngờ giửa đường, giửa chợ khi chuẩn đi công tác hay lúc trở về từ vùng hành quân. Hình ảnh ‘kiêu binh’ đó không có gì lạ, vì Hà Tiên gần như là một thành phố của nhiều sắc lính tác chiến. Có lúc tôi phải nổ súng giửa chợ để ra mật hiệu tập họp nhân viên đi công tác bất thường. Cơm nước thì khỏe re. Tôi ăn cơm tháng tại nơi mướn nhà trọ. Vài nhân viên của tôi quen biết ngư dân có ghe đi biển nên chúng tôi tha hồ có đồ biển ăn hàng ngày. Tôi thích nhất món cá sống làm gỏi với nước chấm đặc biệt có nước cốt dừa và lẩu chua cá nháp hay cá đuối. Nhậu hết biết, do đầu bếp Tám rổ ra tay.

Thời gian công tác tại Hà Tiên, toán xung kích chúng tôi rất gắn bó và có thật nhiều kỷ niệm khó quên với nếp sống tự do, bụi đời và ngang tàng của những người lính trẻ. Sau hai tháng, tôi được thuyên chuyển về Duyên Đoàn 42 An Thới – Phú Quốc. HQ. Chuẩn úy Nguyễn Tấn Phát thay tôi làm trưởng toán xung kích. Sau đó không lâu tôi được tin trong một chuyến công tác, Chuẩn úy Phát bị thương nơi đùi trái và Thủy thủ Thạch, xạ thủ M.60 bị VC bắn sẻ, viên đạn Ak47 oái oăm trúng đầu làm Thạch tử trận ngay tại chổ, trên kinh Vĩnh Tế. Tội nghiệp một thằng em dễ thương! Xin đốt một nén hương lòng tưởng niệm một Thủy thủ xung kích đã vĩnh viễn nằm xuống.

 

Kỷ niệm Ngày Quân Lực 19/6 năm 2016

HQ. Phm Quc Nam

 

…………………………………………………………………………..

CÁI THÚ ‘DA-XEO’

thầy gồng

Viết để tặng các Chiến Hữu Giang Đoàn, và đặc biệt cho các anh Huỳnh Duy Thiệp, Đỗ Quang Khanh, Lê Hữu Dõng để nhớ lại những bữa ‘khề khà’ tại các quán nhậu bên sông.

Cái danh từ quá mới lạ!

Các Cụ cứ nghe lời tôi, nhắm mắt lại và phiên âm ra tiếng Mẽo thì các Cụ sẽ vỗ đùi đánh đét một cái, cười lên hô hố mà rằng:

– A! Ta đã tìm ra chân lý.

Các Cụ nghĩ rất đúng, đó là phiên âm tiếng Việt của danh từ ‘yard sale’.   Một danh từ mới quen của dân tị nạn đợt đầu và bỡ ngỡ đối với những người mới đến.

Danh từ Da-Xeo rất thông dụng, để quảng cáo việc bày bán trước sân nhà các món hàng cũ, mới, kể cả các món hàng sức càng, gãy gọng mà gia chủ, muốn vớt vát lại một tí tiền còm sau là đỡ ‘chật chội’ nhà cửa.

Ngoài danh từ da-xeo còn có nhiều danh từ khác như : gờ-rai-xeo (garage sale), pót-xeo (porch sale), bây-sơ-mân xeo (basement sale).  Đại loại thì những món hàng được bày bán cũng như da-xeo nhưng những danh từ trên chỉ có mục đích ám chỉ vị trí bày bán mà thôi.

Ngoài các danh từ trên còn có danh từ “phi-mạc-kết” (flea market) hay “râm-mét-xeo”  (rummage sale).  Những nơi này thì các món hàng được bày bán nhiều hơn và được bán tại các Nhà Thờ hay cơ quan Từ Thiện.  Tiền thu được sẽ bỏ vào quỹ sanh hoạt cho các cơ sở nầy.

Ở những nơi bày bán da-xeo cho tới phi-mạc-kết, các Cụ có thể tìm mua được từ cái muỗng cho tới dàn máy HiFi, từ bàn ghế cho tới vật liệu trang trí trong nhà.  Về giá trị món hàng thì các Cụ có thể tìm thấy từ món hàng “mới tinh” chưa cắt chỉ với giá rẻ mạt (give away price) cho đến chiếc ‘bát mẻ’ của mấy mụ già Mẻo keo kiệt. Nhưng tổng quát mà nói thì tìm mua vật dụng tại các ‘chợ trời’ này là một tiết kiệm đáng kể và đặc biệt là cho những người mới định cư trên đất nước này (fresh off the boat), trong khi tiền bạc chưa được thoải mái.

Khách hàng da-xeo gồm nhiều thành phần, từ những người cố tình tiết kiệm tìm mua những vật dụng cần thiết với giá rẻ, cho đến nhà sưu tầm ‘đồ cổ’, mà những nơi này họ có thể tìm được những cái mà họ thích, có thể là những bức tranh quí giá cho đến cái ’bi đông’ rỉ sét của thời kỳ Nam Bắc phân tranh Yankee/Confederate.  Cũng có người mua đi bán lại, tìm mua những hàng thật rẻ để bày bán ở một nơi khác với giá cao hơn.  Còn một loại khách hàng cuối cùng rất đặc biệt, đi da-xeo không phải vì tiết kiệm, không tìm mua đồ cổ mà đi da-xeo là một ‘cái thú’ đấy các Cụ ạ.

DA_XEO_01

Tôi có người bạn được xếp vào loại người sau cùng, đi da-xeo là một cái thú của ngày nghỉ cuối tuần.

Vào những buổi chiều Thứ Năm, Thứ Sáu, trên đường về từ sở, các bảng da-xeo màu xanh, màu đỏ với những mũi tên đỏ chói như mời gọi, rủ rê.  Anh định hướng bản đồ, lấy ‘tọa độ’, một bảng da-xeo là một ‘chốt điểm’ mà anh cần phải thanh toán, giống như ngày nào trên sông rạch Miền Nam mà anh là một thủy thủ Giang Đoàn, anh tháo cản, khóa chốt bảo vệ cho các đoàn công voa gạo, than xuôi ngược an toàn.

Ngày Thứ Bảy đã đến, sau phần điểm tâm, anh đem bảng đồ ra nghiên cứu địa thế lần cuối.  Không cần phải có Bản Ước Tính của Ban 2 (tình báo), anh vẫn nắm vững tình hình.  Trục Tiến Quân đã được vạch ra trong trí.  Một Đường Lối Hành Động hữu lý đã được chọn lựa và Chiến Thuật ‘diều hâu’ sẽ được áp dụng cho cuộc hành quân…..Big Bargain Operation.

Đúng 9:00 giờ sáng, anh ra xe, chị vợ chạy theo nói với:

– Anh nhớ về sớm, trưa nay có anh chị T. mời đi ăn đầy tháng cho con.

 

 

Vietnamese Navy boats laden with Vietnamese Army infantrymen swing along the Bien Tre river to launch a search mission some 50 miles south of Saigon in the Meking Delta's Kien Hoa province, July 11, 1967. Viet cong guerrillas fired on the flotlla from the brushy shoreline, but no major contact was made. (AP Photo)

Vietnamese Navy boats laden with Vietnamese Army infantrymen swing along the Bien Tre river to launch a search mission some 50 miles south of Saigon in the Meking Delta’s Kien Hoa province, July 11, 1967. Viet cong guerrillas fired on the flotlla from the brushy shoreline, but no major contact was made. (AP Photo)

DA_XEO_03

Anh chồng vẫn bước đều, tay phải cầm tấm bảng đồ phe phẩy, mắt ngời sáng nhìn về phía trước như sắp ra hiệu cho các các đứa con, Monitor, Zippo, sẵn sàng vào tuyến xung phong.

Anh rồ mày, sang số, chiếc xe hăm hở chồm lên với một sự náo nức giống như tâm trạng của chủ nó.

Sáng nay là một buổi sáng đẹp trời vào đầu mùa Hè, khí hậu mát mẻ, anh cảm thấy thoải mái vô cùng.  Chị vợ nhìn theo, lắc đầu nhè nhẹ, khép cửa quay vào nhà, thở dài lẩm bẩm:

–  Xong!

Chị vợ hiểu chồng mình hơn ai hết, ra khỏi nhà là là quên mất thời gian, may mà không quên đường về, hú vía!

Qua nhiều quãng đường lên đồi, xuống dốc, xa xa một tấm bảng màu mè xuất hiện, kinh nghiệm cho anh biết là sắp đến mục tiêu.

Anh khẩn trương hơn ở vị trí sẵn sàng ra lệnh cho toán Tiền-Sát-Đỉnh dồn hỏa lực đồng loạt tác xạ phủ lên đầu địch đang núp sau rừng ‘dừa nước’ ở hai bên bờ sông.  Tấm bảng da-xeo rỏ dần có mũi tên chỉ vào bên trái, mắt vẫn không rời mũi tên, anh ôm tay lái quẹo liền bên trái.  Mũi tên dường như có một sức hút kỳ quái, như thôi miên, điều khiển anh quẹo trái rồi quẹo phải và cứ thế tiếp diễn trên con đường ngoằn ngoèo, như đưa Giang Đoàn tiến sâu vào mật khu U-Minh, thể theo dấu chỉ điểm của các anh hùng Biệt Hải.

Mục tiêu đã bày ra trước mắt, người ra vào tấp nập, xe đậu chật cả hai bên đường.  Anh tìm một chỗ trống, đậu xe và bước nhanh như sợ người đến trước ‘chớp’ mất món hàng mà có thể được anh ưa thích.

Đáp lễ lời chào mời khách của chủ nhà một cách cho qua chuyện để anh còn thì giờ táy máy mấy món hàng bày bán.  Kìa, chiếc xe đạp tập thể dục còn tương đối mới (elliptical bike), xem rất ‘bắt mắt’.  Anh nghĩ mình đã ở tuổi Thất Tuần, thỉnh thoảng nên múa may một chút cho máu huyết lưu thông, cho đầu gối thật ‘nhuyển’.  Anh trèo lên đạp thử, tay bóp thắng, gật cần sang số, đạp nhanh như lấy trớn lên dốc Tour de France.  Xe còn tốt nhưng giá tới 50 bucks, mắt quá.  Rời xe đạp anh bước qua chiếc bàn bên cạnh, chất đầy vật liệu linh tinh, anh với tay cầm chiếc máy quay phim loại nhỏ đưa lên ‘bấm’ thử, tiếng máy xè xè làm anh thích thú, anh nghĩ?  Mua về cho thằng con trai chắc nó thích lắm.  Nhìn tiền ghi trên máy, giá 5 đô.  Giá phải chăng nhưng anh vẫn kỳ kèo với bà chủ để chỉ trả cho món hàng với giá 2.50 tì, 50% off.

Rồi chiến trường đầu tiên với món ‘chiến lợi phẩm’ trên tay, anh qua mục tiêu kế tiếp.

Cảnh cũ lại tái diễn, anh đậu xe, bước vào.  Một giọng chào hỏi lơ lớ (broken English) nổi lên;  anh chào trả và làm bẩm trong bụng:

– Chém chết mấy cha nội Ngoại Quốc nầy bán đồ để kiếm vốn về xứ đây.

Đúng y như rằng, hàng bày bán với giá quá mắc vì ‘không phải của đổ mà là của hốt’.  Anh rảo nhanh một vòng rồi đi ra xe nhưng không quên chào bà chủ một câu:

-Ô Voa!  (au revoir)

Anh ra xe nối tiếp con đường còn lại để thỏa mãn trọn vẹn cái thú vui cuối tuần.

Thì giờ chậm chạp trôi qua, mười một giờ, mười hai giờ, rồi cây kim ngắn chỉ vào số 1. Chị vợ ở nhà nóng ruột ra vào không yên.  Chuông điện thoại reo tới tấp.  Chị vợ quýnh quáng chụp lấy ống nghe, một giọng quen thuộc nổi lên:

– Chị… đó hả?  Đi chưa, anh chị H. đã đến rồi đó, đầy đủ cả rồi chỉ còn chờ hai ông bà thôi.

– Chị vợ mếu máo, ảnh chưa dìa!  Cứ ăn trước đi, ảnh dìa tui lại ngay hà.

Gác ống nói, chị vợ bực mình đi tôi đi lui.  Phải nói rằng, chị vợ của bạn tôi rất vui tánh, cởi mở nhưng có một yếu điểm là để bị chi phối vì ngoại cảnh, chị rất dễ bị ‘lính quýnh’ nếu  một ai hối thúc hay làm áp lực.

Ba giờ chiều, tiếng xe quen thuộc rẽ vào ngõ, tiếng cửa xe đóng đánh sầm, tiếp theo là những âm thanh kỳ lạ, lỏn cỏn, lảng cảng, thỉnh thoảng lại có tiếng loong coong như có vật gì rớt trên nền xi măng .

Chị vợ nhìn ra, thấy ông chồng mặt tưoi rói, khệ nệ khiêng chiến lợi phẩm vào nhà, thôi thì đủ thứ lỉnh ca, lỉnh kỉnh.  Chị vợ hối thúc chồng thu dọn chiến lợi phẩm vào một góc nhà để còn đi ăn đầy tháng cho con anh chị T.

Thời gian tuần tự trôi qua, đống chiến lợi phẩm cứ lớn dần và lớn dần.  Anh cứ mua nhưng chẳng biết để làm gì, cho đến một ngày không còn lối di, chị vợ lẳng lặng cho ‘di tản chiến thuật’ vào thùng rác, cho đỡ chật nhà.

Trên đời này có nhiều cái thú, nhưng anh bạn tôi không tìm thú vui qua hình thức rượu chè để đánh vợ, chưởi con, anh không tìm vui qua canh bạc để vợ con đói rách. Thì cái thú da-xeo cũng là một hình thức tiêu khiển để tô điểm cho kỹ nghệ ‘chợ trời’ ngày một thêm phồn thịnh, phải không các Cụ?

 

Virginia trong mùa Bão Tuyết

thầy gồng (Đệ Nhất Nhân Mã)

Khoảnh khắc của người lính biển

Tân khóa sinh SVSQ/HQ/K.21 đi bờ khi còn tạm trú trại Bạch Đằng II cuối năm 1969. (Ảnh của Lê Xuân Chiến)

Cuối tháng 9 năm 1969, tôi rời đại học Khoa Học gia nhập khóa 21 SQHQ. Tốt nghiệp Khóa 2 Đặc Biệt Hải Quân Nha Trang (K.2 ĐB/HQ/NT) và thụ huấn thêm Khóa 4 Thuyền Trưởng tại Cam Ranh. Thế là con nòng nọc bám trên cập cầu vai của tôi đứt đuôi CB để trở thành quan hai tàu thủy (HQ.Trung uý). Từ đó cứ theo chiến đĩnh rồi đến chiến hạm lênh đênh miết trên biển cho đến khi con tàu biến mất vào đêm 29 tháng 4 năm 1975. Tính ra thời gian làm lính biển của tôi chỉ được 6 năm 1 tháng, ít hơn thời gian tôi đi ‘bờ’ trong các trại tù cộng sản gần hai năm và đến nay chỉ bằng một phần năm thời gian sống trên đất Mỹ. Thật là khoảnh khắc ngắn ngũi của đời một lính thuỷ!

.

SVSQ'HQ/21 - Phạm Quốc Nam

SVSQ/HQ – Phạm Quốc Nam (1969)

Thời gian làm lính của tôi qúa ngắn ngũi phải không các bạn? Khi mà màu áo xanh và cập cầu vai còn nhẹ trơn, chưa đủ bạc màu gió biển và vẫn còn nhát sợ khi lái con tàu đối diện với những cơn cuồng nộ của biển khơi. May mà thuở ấy tôi không còn say sóng như lần đầu tiên bị say sóng rã nát người, tưởng như muốn chết đi khi cùng 14 thằng bạn mới ra trường xuống chiếc LST của Hải Quân Đại Hàn rời bến Saigon đi An Thới (Phú Quốc). Say sóng lần đầu tiên ấy cũng có phần vì nghe lời xúi dạy của mấy thằng đàn anh hải quân mắc dịch chỉ bảo rằng đừng ăn uống gì khi đi biển. Nghe lời họ, thế mới chết! Trong bụng có cái chi đâu mà ói. Ói hết mật vàng rồi đến mật xanh đắng ngét và muốn nhảy tùm xuống biển cho xong quách đời thủy thủ. Có lẽ cơ thể của mỗi người có khác nhau, tôi càng no bụng khi đi biển tôi càng thấy dễ chịu hơn. Không hiểu có sức mạnh nào mạnh hơn sóng biển nhỉ? Tôi có cảm tưởng bất cứ loại tàu bè nào cũng sẽ trở nên nhỏ bé và yếu đuối trước những cơn thịnh nộ của đại dương. Ai mà chẳng say sóng? Theo tôi, trách nhiệm đối với con tàu là liều thuốc hay trị say sóng.

Hồi tưởng lại sau 8 năm tù cộng sản, trở về gia đình với sức khoẻ tồi tệ bên trong cái thân gầy gò như con khỉ khô, tôi đã mạo hiểm nhận một chuyến vượt biên bằng đường biển. Chiếc ghe nhỏ chưa ra xa khỏi bờ biển Việt Nam, sóng biển không lớn lắm nhưng đủ làm cho tất cả thuyền nhân và thợ máy, tài công phụ say sóng, nằm lăn ra như chết. Một mình tôi với chặng  hải hành hai ngày ba đêm ôm lấy tay lái ghe, không ngơi nghĩ cho đến khi được tàu Hoa Kỳ vớt gần Indonesia, tôi vẫn tỉnh táo, không mệt mõi, kiệt sức. Phải chăng vì trách nhiệm với gần một trăm sinh mạng trong tay làm cho tôi có sức chịu đựng dẽo dai kỳ diệu đó.

Tuy đời lính của tôi ngắn ngũi như thế. Nhưng thời gian đó thật có gía trị cho một đời người. Nó cho tôi cái vinh quang được dâng cả tuổi trẻ phục vụ cho Tổ quốc và niềm tự hào của người lính thủy. Nó đã dạy cho tôi biết bao nhiêu điều trong cuộc sống, nó mang đến cho tôi thật nhiều bạn bè thân thương, nó cho tôi nhiều kỷ niệm khó quên, nó mang tôi đi đến nhiều vùng đất lạ của đầm lầy, con sông, cửa biển, hải đảo và tận đến những vùng biển xa xôi lạ lẫm của quê hương nước Việt mà tôi chưa bao giờ có dịp đi đến; nếu không nhờ cái khoảnh khắc làm lính thủy đó.

Nhưng cái khoảnh khắc đó cũng đã đưa tôi vào nhà tù của phe thắng cuộc sau 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc chiến

HQ611 tại trước BTL/HQ sáng 29/4/1975 (trong phim 'Last Days in VN'

HQ611 tại trước BTL/HQ sáng 29/4/1975 (trong phim ‘Last Days in VN’

kết thúc, kẻ thua cuộc đi tù, bị đói khát, bị hành hạ, bị khổ sai là chuyện thường của người tù. Cũng đáng đời cho tôi. Đã không sáng suốt lại còn nhẫn nhơ, không quyết định dứt khoát. Cái tội lớn nhất của tôi là đã rời bỏ nhiệm, trách nhiệm đang chỉ huy một con tàu. Chỉ trong một đêm, sáng hôm sau tất cả đều đổi thay, mất tất cả và tôi cũng như hàng trăm ngàn người lính VNCH trở thành những thằng tù của chế độ mới. Bởi vậy, tôi chấp nhận số phận của người thua cuộc, đi tù cộng sản, không rên la, không than oán. Nhưng tôi hận, hận những thằng tù bội phản đồng đội, làm tay sai cho kẻ thù. Tôi vẫn còn hận hai thằng tù làm trật tự viên trại Z30A (Chợ Ông Đồn – Long Khánh) có tên là thằng Muôn và thằng Lành. Một buổi xế chiều kia, chúng đã rình rập bắt tôi tại trận trên đường trở về phòng giam với nữa ký đường tán mà tôi lén lút gởi tiền nhờ anh em tù của toán xe be có dịp đi công tác ngoài trại mua dùm. Con tổ bà nó! Chúng cướp lấy nữa ký đường để ăn mà còn lôi tôi về phòng riêng thay phiên đánh đá hội đồng trước khi chúng giải tôi lên văn phòng của các tên cán bộ trại. Vành cạnh sắt bén từ chiến nhẫn đeo tay của tên Muôn còn để lại mí mắt phải cũa tôi một vết sẹo dài cho đến ngày nay.

* * *

Bước chân vào lính, tôi đã quyết định đúng khi tình nguyện gia nhập Hải quân. Dù là đời lính thủy chỉ trong khoảnh khắc, nhưng tôi rất trân trọng và cám ơn cái khoảnh khắc đó. Ngoài những gì đời lính đã cho và đã dạy, nó còn cho tôi cái quý báo nhất là vốn liếng biết lái tàu và đi biển. Cái vốn liếng đi biển như là những mắt xích của định mệnh, nó là cứu cánh làm biến đổi đời sống của tôi sau khi ra tù. Là điều kiện giúp tôi thoát khỏi chế độ cộng sản bằng đường biển. Hơn nữa tôi đã đưa được hàng trăm thuyền nhân cùng với gia đình vợ con tôi thoát khỏi địa ngục cộng sản với cuộc hải hành thật bình an.

Tôi cũng rất tự hào với bộ quân phục hải quân. Ngày nay thỉnh thoảng tôi trân trọng mang ra mặc trong những ngày lễ hội lớn. Mặc lấy bộ quân phục ngày xưa, mãi mai tôi không hề mặc cảm của đoàn quân thua trận. Màu áo mang mộng hải hồ. Tôi vẫn yêu thích mặc lấy nó vì tôi đã khôn lớn từ màu áo ấy. Nó đã cho tôi đủ thứ trong qúa khứ và chính nó đã biến đổi và mang đến cho tôi mọi sự tốt đẹp, hạnh phúc của ngày hôm nay. Sự thành đạt của con cái tôi có được cũng từ bộ quân phục đó. 

***

Khoảnh khắc thời quân ngũ ấy, ngoài thời gian trong những quân trường và hai tháng biệt phái cho Tác Chiến Điện Tử của Hoa Kỳ tại Hà Tiên, còn lại tuổi lính của tôi gắn liền với biển cả.

Tôi đã phục vụ tại các hải đảo và các đơn vị xa nhà (Saigon) như Duyên đoàn 41 Hòn Khoai (Poulo Obi), Duyên đoàn 42 (An Thới – Phú Quốc), Hải đội 5 Duyên Phòng, Hải đội 4 Duyên Phòng mà công tác hay di chuyển đều bằng đường biển trên các chiến đĩnh. Rời Hải Đội 4 Duyên Phòng cuối năm 1974. Tôi bàn giao duyên tốc đĩnh PCF- HQ 3909 tại Hòn Tre Rạch Gía (Duyên đoàn 43) và trình diện tân đáo Tuần Duyên Hạm HQ.611 Trường Sa của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, sau một tuần đi phép.

Mặc dù tất cả các đơn vị tôi phục vụ là đơn vị tác chiến, nhưng vùng biển mà tôi đã tuần tiểu quen thuộc từ Bắc đảo

PCF - HQ.3909

PCF – HQ.3909

Phú Quốc, qua Hà Tiên, Rạch Giá xuống mũi Cà Mau và vòng lên ngoài khơi cửa Gành Hào chưa lần nào đụng địch trên biển. Ngoại trừ Hải Đội 5 Duyên Phòng, có hậu cứ tại Năm Căn, mà các PCF của hải đội như là tấm bia cho các toán săn tàu trong sông của Việt Cộng. Hầu hết các PCF của Hải Đội 5 đều bị trúng B40 của địch. Tuy nhiên, tôi là một trong vài ba thuyền trưởng khác có mệnh ‘không sát quân’, nên gần hai năm ở Hải Đội 5 Duyên Phòng, tàu của tôi chưa một lần nào bị địch quân phục kích. Trên biển với trận đánh quân xâm lược Trung Công ngày 19/1/1974 tại Hoàng Sa là trận hải chiến duy nhất trong hải sử của HQ/VNCH. Thành tích của hải quân VNCH săn bắt tàu bè của VC xâm nhập bờ biển miền Nam cũng rất đáng kể. Trách nhiệm của hải quân bảo vệ sông ngòi rất nặng nề với nhiều cuộc giao tranh ác liệt với địch quân. Đời lính thủy của tôi không có dịp được phục vụ các đơn vị trong sông. Chỉ có một lần toán tàu tuần của chúng tôi từ biển trở về hậu cứ Năm Căn, vừa qua khỏi cửa Bồ Đề, đúng lúc Việt Cộng khai hỏa phục kích toán PCF khác đang trên đường từ hậu cứ ra biển thay thế đoàn tàu của chúng tôi từ biển trở về hậu cứ. Chúng tôi đưa tàu đến yểm trợ PCF bạn. Đây là lần đầu tiên tôi có được cái cảm giác và chứng kiến cảnh giao tranh. Tiếng súng đạn, các đớm lửa khạt ra không ngừng từ các nòng súng lớn nhỏ trên các PCF, tiếng nổ tung của đạn phóng lựu, của súng cối 81 ly, cùng với những lằn đạn lửa kéo dài đan chéo nhau giửa màn đêm. Hỏa lực khiếp đảm của các PCF đã cày tung một vùng đất phía xa trên bờ sông, nơi toán săn tàu VC ẩn núp phục kích. Cuộc phản công chớp nhoáng của hai toán PCF dập nát họng súng của VC chấm dứt, tôi đưa con tàu ra khỏi màn khói dầy dặt mùi thuốc súng đang bao trùm cả một khúc sông với cảm giác kiêu hùng của một người lính thủy.

* * *

Mỗi đơn vị tôi được phục vụ đều cho tôi ít nhiều kỷ niệm. Kỷ niệm vui có, buồn có, lãng tử có và bạc mệnh, nông nổi của một sĩ quan trẻ cũng không thiếu. Tôi còn nhớ hoài lời nói cao hứng của HQ Đại Tá Nguyễn văn Hớn trong một buổi tiệc của hải quân Oregon khi ông còn cư trú tại Vancouver, WA: “Hải quân còn cấp nhỏ như cấp uý mà không nông nổi, không quậy thì không phải hải quân”. Câu nói của Đại tá Hớn có đúng không các bạn? Với tôi thì đúng qúa đi thôi. Có một thời tôi quậy đến bến. Về gìa, đôi lúc ngẫm nghỉ lại mà thấy chán cho chính mình.

HQ. 611Trường Sa

HQ. 611Trường Sa

Tiếp nối những kỷ niệm bằng nhiều sự kiện của những ngày cuối cùng của tháng Tư Đen mà tôi có liên hệ và cơ hội chứng kiến đã để lại cho tôi những ký ức khó quên nhất. Đó là những sự kiện của lịch sử, của những biến động bên trong ngoài hải quân; Những kỷ niệm này có tính xác nhận như một nhân chứng về vai trò và việc làm của vài vị sĩ quan cao cấp của hải quân trong những ngày cuối của chiến tranh Việt Nam, được kể tuần tự theo thời gian như dưới đây:

– Câu chuyện HQ 611 bắn phi cơ A37 của giặc lái Nguyễn Thành Trung dội bom Dinh Độc Lập sáng sớm ngày 8/4/1975. Sau đó lại có lệnh ngưng tác xạ: “Ngưng bắn đi Nam. Mầy muốn đi tù hả…”. HQ Trung T á…X, Chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh Bộ Tư Lịnh Hải quân ra lệnh cho tôi.

– Câu chuyện lập danh sách “Thân nhân thủy thủ đoàn theo tàu ra Côn Sơn tránh pháo kích Saigon”HQ 611 chuyển vật dụng và gia dụng ra Vũng Tàu trước nhiều ngày 26/4/1975 , được đề cập đến như xác nhận kế hoạch của HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, cựu Tư Lịnh Hạm Đội mang hạm đội ra Côn Sơn để tái phối trí bộ chỉ huy hạm đội trên Côn Sơn và tiếp tục chiến đấu với Việt cộng là sự thật.

– Chiều tối ngày 26/4/1975, tôi tham dự buổi lễ bàn giao tư Lịnh Hạm Đội giửa HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn (cựu TL/HĐ) và HQ Đại Tá Phạm Mạnh Khuê (tân TL/HĐ) trên lầu hai của bộ Tư Lịnh Hải Quân, mà bài viết của Đại tá Nguyễn Xuân Sơn đã thiếu mất sự kiện lịch sử này có liên hệ đến ông.

– Sáng 29/4/1975 nhận lệnh di tản. Trên đường trở về tàu, tôi gặp Võ Trường Xuân, sĩ quan trực của HQ 402. Chúng tôi lên kế hoạch đưa thủy thủ đoàn HQ 402 qua HQ 611 di tản.(Theo Xuân HQ 402 bất khiển dụng)

– Chiều 29/4/1975 tôi ký sự vụ lệnh cho tôi và hạ sĩ Tô Nhật Hà lái xe đưa tôi ra khỏi cổng Bộ tư Lệnh Hải quân về nhà thu xếp thân nhân xuống tàu……………….

Di tản chiều tối 39/4/1975 (Tư liệu của HQ. Phạm Kim)

Di tản chiều tối 39/4/1975 (Tư liệu của HQ. Phạm Kim)

– Sáng 30/4/1975, tôi có mặt thật sớm tại bến tàu. Trên sông Saigon, tàu bè, thương thuyền, chiến hạm vắng tanh. Trước Bộ Tư Lịnh Hải Quân băng qua kia đường đồ đạt, xe cộ, áo quần , giày dép, giấy tờ bừa bải như đóng rác lớn. HQ 611 cũng biến mất tại cầu A. Đang tần ngần trên bến tàu, chiếc PGM của người bạn thân (Báo bựa) cùng khóa đang đưa tàu cập cầu A. Tôi giúp bắt và cột dây cho chiếc hạm. Tôi trèo lên tàu gặp thằng bạn. Chiến hạm lấy nước xong, chuẩn bị tách bến. Tôi từ chối ra đi vì không đành lòng bỏ lại vợ con và người thân. Tôi trèo xuống và tháo dây cho chiến hạm tách bến. Đó là chiến hạm cuối cùng của HQ/VNCH ra đi vào sáng 30/4/1975. Tôi nhìn theo chiếc hạm khuất dần sau khúc quanh đằng xa, lòng buồn vô hạn. Lúc đó, tôi vẫn còn mặc bộ quân phục với khẩu súng colt 45 bên trong. Tôi không thấy sợ hãi khi kẻ thù đang tiến vào Saigon, nhưng tôi buồn và nghẹn ngào muốn khóc. Vì thoáng một cái, đời binh nghiệp của tôi tiêu tan, mất sạch: người lính biển không còn con tàu, không còn binh chủng và không còn đồng đội……….Nổi buồn nào hơn!

– Trở về nhà tận Bà Chiểu – Gia Định, tôi thấy nhiều anh em thủy thủ đoàn của HQ 611 tại phòng khách. Tôi hết sức ngạc nhiên tự hỏi tại sao họ không theo tàu di tản mà lại có mặt tại nhà tôi. Thắc mắc của tôi nhanh chóng được họ cho biết chiều tối 29/4/1975 rất đông quân nhân đủ mọi binh chủng trèo lên tàu và dùng vũ khí cưỡng bức HQ 611 ra đi. Nhưng không may cho họ, HQ 611 bị vô nước chìm trên đường di tản (Theo lời kể của thuỷ thủ đoàn HQ 611). Anh em thủy thủ đoàn lội sông vào bờ và đi bộ về tụ tập tại nhà tôi. Ít phút sau đó Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Thế là hết! Mộng hải hồ của chúng tôi cũng bị chặt đứt ngay đó. Tôi giải tán anh em thủy thủ và an ủi họ nhà ai nấy về. Nhìn họ ra về, tôi chìm trong nổi ân hận đã không trở về tàu tối 29/4/1975 để cùng với họ mang con tàu ra đi.

Nhân nói đến sự kiện này, tôi muốn đề cập đến câu hỏi mà tôi đã hỏi anh em thủy thủ đoàn của HQ 611 sáng 30/4/1975 tại nhà tôi : “Ai ra lệnh di tản?”. Anh em thủy thủ trả lời: “Đại Tá Đổ Kiễm”. Tiếp theo 40 năm sau, phim ‘Last Days In Vietnam’ của Rory Kenedy xuất hiện như một tài liệu mà trong đó có những đoạn nói đến vai trò của HQ Đại Tá Đỗ Kiểm trong sự kiện hạm đội của VNCH di tản. Chi tiết này ngược lại vài nguồn tin trong hải quân VNCH như muốn phủ nhận công lao của Đại Tá Kiểm? Cá nhân tôi phản đối những nguồn tin này. Lời của thủy thủ đoàn HQ 611 nói đến Đại tá Đỗ Kiểm với tôi và phim Last Days in Vietnam đã đủ nói lên công lao của Đại tá Đỗ Kiểm trong cuộc di tản của hạm đội VNCH. Một sự thật không thể phủ nhận!

– Cũng sau 39 năm, qua bài viết “Đời thủy thủ & Đêm giang hành lịch sử ” cho tôi được biết chiều tối 29/4/1975, HQ Trung Tá Trần Hương (K. 9/NT) tức Người Thủy Thủ Gìa, tác gỉa của bài viết đã yểm trợ đưa Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang, đương kiêm Tư Lịnh HQ/VNCH lúc ấy cùng đoàn tuỳ tùng xuống HQ 611 đang nằm tại cầu A, trước Bộ Tư Lệnh Hải Quân để di tản. Rất tiếc! Tôi và nhiều thủy thủ không có mặt dưới tàu để đón và đưa ông ra khơi. Do đó, Tư Lịnh Chung Tấn Cang chuyển sang PGM – HQ 601 của Hạm trưởng Trần Minh Chánh (HT. T.M. Chánh [K.1 ĐB/HQ/NT] là con trai trưởng của cựu Tư lịnh Hải quân Trần Văn Chơn) đang nằm bên tả hạm HQ 611. Hạm trưởng Chánh đưa Tư lịnh Chung Tấn Cang ra tàu lớn và quay tàu về Saigon.

* * *

Sau 30/4/1975 tôi đi ‘bờ’ gần 8 năm qua nhiều trại tù khổ sai của cộng sản Việt Nam. Ra tù, tôi bôn ba trong giới vượt biên. Bốn lần thất bại vì bến bãi. Đến lần thứ năm được cựu HQ Thiếu tá Nguyễn Duy Khanh – K.12 (Tôi quen biết anh Khanh ngay những ngày đầu ở trại Bạch Đằng II Saigon khi gia nhập Khoá 21SQHQ năm 1969 và anh đang là tuỳ viên của Tư Lịnh HQ Trần Văn Chơn qua giới thiệu của ca sĩ Huyền Châu trong Ban Việt Nhi của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức), một đàn anh đáng kính và gắn bó với tôi trong suốt thời gian quân ngũ và sau này khi cả hai ra tù cho đến khi cùng có mặt trên đất Mỹ, đã giới thiệu tôi đến một tổ chức vượt biên để đãm nhận ‘đánh’ một chuyến đi với 89 thuyền nhân. Sau hai ngày ba đêm hải hành. Tàu chở gas LNG Aquarius của Hoa Kỳ vớt ghe chúng tôi gần Nam Dương. Sau 6 ngày đêm theo tàu chở gas LNG Aquarius đến Nhật Bản. Tháng 6 năm 1986, gia đình chúng tôi đến Hoa Kỳ ……….Cuộc sống mới bắt đầu….

HQ/ĐB. Phạm Quốc Nam

Các cựu Thuyền trưởng Hải Đội Duyên Phòng

Các cựu Thuyền trưởng Hải Đội Duyên Phòng

 

 

 

Dạ Tiệc Mừng Tân Niên 2016 của Hội Ái Hữu Hải Quân VNCH/WA

 

Trang nghiêm lễ chào Quốc Kỳ Mỹ – Việt khai mạc DẠ TIỆC TÂN NIÊN

Trang nghiêm lễ chào Quốc Kỳ Mỹ – Việt khai mạc DẠ TIỆC TÂN NIÊN

Ðáp lời mời của Hội Ái Hữu Hải Quân QL/VNCH/WA, chiều thứ Bảy 5/3/2016, tại nhà hàng Jumbo Seattle, hơn 400 quan khách bao gồm các đại diện Hội đoàn Quân Ðội, tổ chức cộng đồng cũng như cơ quan truyền thông cùng thân hữu đã đến tham dự Dạ Tiệc Dạ Vũ Mừng Tân Niên đồng thời ra mắt Ban Chấp Hành Hội Ái Hữu Hải Quân QL/VNCH/WA nhiệm kỳ 2015 – 2017.
Sảnh đường nhà hàng Jumbo rộng lớn nhìn thấy kín người tham dự, không khí tưng bừng như một ngày đại hội, tưỏng chừng như mùa Xuân hãy còn hiện diện tại đây với màu sắc thanh lịch của những tà áo dài xanh đỏ vàng, rực rỡ làm đẹp và gợi nhớ đến khung trời kỷ niệm thuở nào ở chốn quê xưa. Nhưng nổi bật nhất vẫn là màu trắng quân phục của những cựu chiến sĩ Hải Quân QL/VNCH đã làm cho không khí tăng thêm phần trang trọng.
Tham dự chương trình mừng Tân Niên của Hội Ái Hữu Hải Quân QL/VNCH/WA năm nay, ngoài thân nhân gia đình bằng hữu, còn có sự hiện diện của hầu hết các đại diện tổ chức cộng đồng và hội đoàn quân đội tại địa phương. Con số quan khách tham dự được biết vượt xa ngoài dự liệu của ban tổ chức. Sự có mặt đông đảo của đủ thành phần NV trong đêm tiệc đã cho thấy sự thành công của ban tổ chức và tinh thần đoàn kết đang dần ló dạng trong CĐNV tại địa phương. Phải chăng thành quả khích lệ này bắt nguồn từ tôn chỉ độc lập, không phe nhóm và sẵn sàng sát cánh chung vai với tất cả đoàn thể quốc gia, hội đoàn quân đội trong tinh thần bình đẳng và tương kính trong những sinh họat của Tân ban chấp hành Hội Ái Hữu Hải Quân QL/VNCH/WA, đã tạo được sự tín nhiệm và quý mến của đồng hương mà hiếm hội đoàn QĐ nào tại địa phương có được.
Chương trình tiệc Tân Niên khai mạc vào lúc hơn 7 giờ với nghi lễ chào cờ hát Quốc Ca Hoa Kỳ-Việt Nam và một phút mặc niệm diễn ra trang trọng do cựu HQ Thiếu tá Trần Bá Hạnh điều hợp. Ðồng hương tham dự cũng như những CQN hiện diện cùng cúi đầu tưởng nhớ và tri ân đến công ơn những anh hùng liệt nữ đã vị quốc vong thân, đặc biệt những chiến sĩ Hải Quân đã anh dũng hy sinh trong sứ mạng thiêng liêng trấn giữ hải biên, bảo vệ Hoàng sa của tổ quốc VN.
Hải Quân Tân Hội Trưởng Đào Quốc Hiển trong quân phục đại lễ trang nghiêm được mời lên lễ đài đọc diễn văn chào mừng và chúc tết quan khách cũng như cảm tạ sự ủng hộ nhiệt tình của các tổ chức cộng đồng và hội đoàn bạn đến tham dự trong đêm tiệc:
Trước hết chúng tôi xin gởi đến quý vị lời cầu chúc chân tình nhất. kính chúc quý vị và gia đình trước thềm năm mới Bính Thân sức khỏe dồi dào, an khang thịnh vượng và vạn sự như ý.
Như thông lệ hàng năm mỗi độ xuân về, hội Ái Hữu HQVNCH/WA tổ chức buổi họp mặt để đưọc cùng qúy vị vui đón mùa xuân mới, nhìn và ôn lại quá khứ cũng như ước vọng về một tương lai tốt đẹp hơn cho chính mỗi chúng ta và mong một VN sớm thoát khỏi chế độ cộng sản để đồng bào chúng ta có được những quyền tự do căn bản, no cơm áo ấm, và hơn nữa là thoát khỏi ách xâm lăng của Trung cộng và sớm giành lại chủ quyền biển đảo, đất đai của tổ quốc VN.
Năm nay chúng tôi nhận thấy có sự hiện diện đông đảo của nhiều giới chức cao cấp và các chiến hữu các quân binh chủng quân lực VNCH, các vị lãnh đạo và hội viên các hội đoàn, đoàn thể người Việt quốc gia tại tiểu bang Washington, đông đảo các cựu chiến sĩ hải quân và gia đình cùng thân hữu. Điều này đã nói lên lòng ưu ái và tình cảm quý mến của quý vị đối với Hội Ái Hữu HQ/WA. Và cũng là niềm hân hạnh của chúng tôi được tiếp đón quý vị tại buổi tiệc mừng tân xuân Bính Thân của Hội Ái Hữu HQ VNCH/WA.
Kính chúc qúy vị một buổi tối mùa xuân trong khung cảnh ấm cúng này thật vui vẻ thoải mái, thưởng thức một chương trình văn nghệ ca nhạc khêu vũ và một bữa cơm ngon miệng.”

Tân Ban Chấp Hành và Cố vấn Hội Ái Hữu HQ/VNCH/WA

Tân Ban Chấp Hành và Cố vấn Hội Ái Hữu HQ/VNCH/WA

Tiếp tục chương trình Tân Hội Trưởng Đào Quốc Hiển đã long trọng giới thiệu Tân Ban Chấp Hành và Ban Cố Vấn đến với quan khách đồng hương:
Ban Chấp hành:
Hội trưởng: HQ Đào Quốc Hiển
Hội phó: HQ Phạm Ngọc Anh
Trưởng ban Ngoại vụ: HQ Lê Văn Thân
Trưởng ban Nội Vụ: Bà Trương Bích Khuê, phu nhân của cố Hội trưởng Nguyễn Lương Thuật
Trưởng ban Văn nghệ: HQ Nguyễn Đức Mậu
Trưởng ban Tiếp tân: HQ Trương Hùng Văn
Trưởng ban Tương trợ và Xã hội: HQ Trương Văn Chi
Cố vấn:
Cựu HQ Tr/tá Đinh Mạnh Hùng
Cựu HQ Th/tá Hoàng Công Minh
Cựu HQ Th/tá Trần Bá Hạnh.
Sau phần thủ tục nghi lễ, chương trình văn nghệ được mở đầu qua màn hợp ca của gia đình Hải Quân. Bản “Tiếng Sóng Vân Đồn” của Hữu Phương được các cựu Quân nhân Hải Quân và các phu nhân trình bày đã thu hút người tham dự. Ca từ bài hát như làm sống lại trong lòng những cựu HQ VNCH có mặt biết bao nhiêu hoài niệm chứa chan của một thời hào hùng cởi sóng gìn giữ bờ cõi quê hương.

Họp ca “Tiếng Sóng Vân Đồn”

Họp ca “Tiếng Sóng Vân Đồn”

Đây Vân Đồn ngày xưa với tiếng reo oai hùng của đoàn quân bách chiến Việt Nam
Bao quân thù gục chết, máu nhuộm hồng giòng nước
Tiếng quân hò mừng chiến thắng về ta
Đây Vân Đồn ngập sóng, gương anh hùng liệt oanh nhắc chúng ta chiến công ngày trước
Nối chí lớn quên mình nhắc chiến công cho đời
Vì giống nòi Hồng Lạc mến yêu…
Xông pha ngoài biển khơi
Chúng ta đi đắp xây mộng sông hồ
Đem thanh bình nơi nơi
Dưới bóng cờ vàng bay phất phới …”
Trong dịp này Cố vấn hội, HQ Th/tá Trần Bá Hạnh đã có đôi lời giải thích về những cờ hiệu màu sắc được trang hoàng trên trần phía trườc sân khấu lễ đài. Ông cho biết như sau:
Khác với những năm trước đây năm nay đêm trùng dương hội ngộ được trang trí rất nhiều lá cờ. Khi bước vào quý vi đã thấy mỗi lá cờ cho 1 mẫu tự cho chữ Welcome. Thật sự những lá cờ khi treo trên cột bườm thì không có nghĩa đơn giản như vậy.
Những lá cờ này được gọi là cờ hàng hải quốc tế. Mỗi lá cờ là tượng trưng cho một mẫu tự A, B, C, D…., 10 lá cờ cho 10 số 0,1, 2 … và 3 lá cờ thay thế.
Khi treo lên cột bườm thì sẽ có ý nghĩa riêng của nó. Thí dụ chữ B ( Bravo) có nghĩa là tàu tôi đang chở chất nổ nguy hiễm, Chữ G (Gold) tàu tôi cần Hoa tiêu, H (Hotel) tàu tôi có Hoa tiêu. Khi đứng trên cầu tàu nhìn lên cột bườm nếu thấy có lá cờ thay thế 3 là biết ngay hạm trưởng không có trên tàu
Nếu treo 2 chữ theo chiều dọc thì cũng có nghĩa của nó. PM theo sau tàu tôi.
Đối với tàu chiến của Hải Quân như thuộc khối Nato khi hải hành tập đội nếu 3,4 hay 5 lá cờ treo theo hàng dọc thi nó sẽ có ý nghĩa giống như đặc lệnh truyền tin để liên lạc với nhau, ý nghĩa được ghi trong quyển đặc lệnh kín của khối Nato…”

Cờ hiệu hàng hải quốc tế

Cờ hiệu hàng hải quốc tế

Chương trình văn nghệ đã được tiếp nối thật sống vui tươi sống động với ban nhạc Saigon Rock của nhạc sĩ Quốc Hùng cùng sự góp mặt của những giọng hát ngọt ngào truyền cảm tại địa phương như: Lâm Mai Hương, Hồng Trang, Thanh Thủy, Ngọc Hoa ..
Ðêm hội ngộ mừng Tân Niên và ra mặt Ban Chấp Hànhcủa Hội Ái Hữu Hải Quân QL/VNCH/WA chấm dứt vào lúc gần nửa đêm. Mọi người ra về mang theo lời chúc tụng của Ban Tổ Chức một năm mới mạnh khỏe và an khang thịnh vượng.

 

Kỷ Niệm Đời Quân Ngũ (Lê Ngọc Trùng Dương )

-Thân tặng các bạn thuộc các khóa đặc biệt ( Lưu Đày ), 21 Nha trang, và OCS.

<>Sau mùa thi năm 1969, tôi giă từ trường học, bước vào trường đời. Từ giã bạn thầy thân yêu và ngôi trường Nguyễn Đình Chiểu thâm nghiêm cổ kính, để dấn thân vào cuộc chiến khốc liệt đang tàn phá quê hương. Tháng 9 năm 1969, tôi cùng các bạn: Lê văn Tính, Lê Minh Tiên, Lê Minh Bạch, Lê văn Đán, Trần Quang, và Ngô Hữu Tân.. ., gia nhập quân chủng Hải Quân; chúng tôi trải qua thủ tục khám sức khoẻ, tại Bệnh viện 3 Dã Chiến Mỷ Tho. Ngày đăng trình, đoàn xe lầm lũi chạy qua con đường Hùng Vương quen thuộc. Hàng me già âm thầm rũ bóng, nhạc ve sầu tấu khúc, hòa cùng tiếng hát u hòai của Thanh Lan từ đâu vọng lại:

Anh đi rồi còn ai vuốt tóc,

LờI tình thơm sách vở học trò …

Anh đi rồi còn ai tình tự

Đêm đầy trơi tiếc nhớ bơ vơ.. . (1)

Âm điệu buồn như vấn vương theo những cánh phượng hồng rơi lả chả, cuốn hút theo cơn gió giao mùa.

Chúng tôi đến với Bạch Đằng 2 vào những ngày đầu tháng 10 năm 1969. Chỉ vài ngày sau, là thực sự khoác áo chinh nhân; sinh họat, tập họp điểm danh, xếp hàng theo đội hình, tập hát những bài hát quân hành và thực tập diễn hành. Ở Bạch Đằng 2 một tuần thì được về phép lần đầu. Hai tuần sau có lệnh đổi quân phục từ kaki vàng sang tím vŕ mũ kepi đen. Hai anh Lê Sang và Nguyễn văn Báu tình nguyện mang quân phục đi nhuộm cho các bạn. Khoá sinh kỷ luật do các anh Lê văn Minh (Tề), Lý Tỷ, Nguyễn văn Báu, Lê Sang đảm nhận. Tôi vẫn còn nhớ các anh Nguyễn Kim Hòan Mỹ, Phạm Quốc Nam, Nguyễn văn Nghiêm, Lê xuân Chiến, Phạm Ngọc Quỳnh, Phan Ban. Lưu Văn MườI, Trần Đăng Bé, Lâm Thanh Khiết, Nguyễn Cường Việt, Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Văn Đŕi, Tôn Thất Phước, Trần Ngọc Chiểu, Nguyễn Ngọc Dzao, Lę Văn Khá, Nguyễn Văn Khá. .. Anh Phạm Khắc Khiêm vào những ngày đầu, trong bộ thường phục thường ôm đŕn hát nhạc phẩm Ngày Trở Về của Phạm Duy cho các bạn cùng nghe, giọng anh trầm buồn đầm ấm:

…Ngày trở về, bên bếp vui

Anh kể chuyện nghe,

chuyện đời quân ngũ…

<>Qua bảng danh sách khóa 21 Home Page, tôi được biết một số bạn Bạch Đằng 2/69 lŕàcác anh Đặng Qui, Văn Yn, Vő Tánh đă từ trần. Những ngày tạm trú ở Bạch Đằng 2 rồi cũng qua mau, chúng tôi được gửi đi tiếp tục thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung; tại đây, tôi trực thuộc đại đội 18C. Đaị Đội Trưởng làThiếu Úy Tôn, ngươì Bắc, dáng hao gầy , Đại Đôị Phó là Chuẩn Úy Tây và một Thượng Sĩ Thường Vụ khoảng 50 tuổi mà tôi quên tên. Khoá sinh Đại Đội Trưởng là anh Huỳnh Văn Sang. Ở TTHL Quang Trung chúng tôi ngủ trên giường hai tầng. Hàng ngày, chúng tôi có nhiệm vụ canh gác phòng ngủ, doanh trại, thực tập tránh pháo kích. Khi màn đêm buông xuống, chúng tôi thường mua chè, cháo lòng đựng trong thùng đạn đại lięn, do các quân nhân cơ hửu hay thân nhân của họ bán. Buổi sáng thức dậy sớm, sau khi “chŕláng ” các hầm trú ẩn, giao thông hào, chúng tôi di hành ra bãi tập để học. Chúng tôi được huấn luyện về căn bản quân sự, di hành, bò hỏa lực, xử dụng các lọai vũ khí, thực tập tác xạ, tác chiến, ứng chiến có khi ngủ đêm tại các băi học. Trưa đến, có xe tiếp tế thực phẩm: cơm, canh, cá mối (chiên), khẩu phần đạm bạc, nhưng vì vận động nhiều, nên ai cũng cảm thấy ngon ăn. Tôi vẫn nhớ các bạn Phạm Đinh Nhật Hà, Nguyễn văn Điềm, Hà Đăng Ngân, Nguyễn Văn Kế Ba, Nguyễn Trọng Quýnh, Nguyễn Khắc Chinh, Phạm Quốc Nam, Vő Xuân Long, Lương Quang Bình.. . Riêng bạn Trần Minh Dũng, sau giờ học tập, về trại thường ngâm nga vài câu thơ Phạm Công Thiện trong bài Ngày Sinh Nhật Của Rắn. Bài hát di hành chắc nhiều bạn vẫn còn nhớ :

Đây khúc ca nơi quân trường đầy hào hùng Vai sát vai ta thi tài trong tình quân ngũ, Đường còn dài nhưng chân cứng đá mềm .. . (?).

Có những sáng sớm rạng đông đă nghe tiếng hát

Thanh Tuyền, vang vọng từ chiếc quán bên kia đường :

Con đường xưa em đi.

Vàng lên mái tóc thề,

Ngõ hồn dâng tái tê.. (?)

Hay nhạc bản Bên Cầu Biên GiớI của Phạm Duy

mỗi lần ăn cơm nhà bàn:

.. .Bên cầu biên giới,

Tôi lặng nghe giòng đơi từ từ trôi. Sông nứơc xa xôi, mây núi khắp nơi,…

Quân trường Quang Trung đă lưu lại nơi tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Vào những ngày Chúa Nhựt; khóa sinh được thân nhân đến thăm viếng như được diễn tả trong bản nhạc Vườn Tao Ngộ,

Hôm nay ngày chúa nhật. Em đến thăm anh,

Đường Quang Trung nắng đổ mŕàem đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao…(2)

Có lần tham dự sinh hoạt Chính Huấn cuối tuần , chúng tôi được thưởng thức chương trình ca, vủ, nhạc, kịch thật đặc sắc. Anh Nguyễn Văn Trào ( Khóa 21 Nha Trang) biểu diễn những màn vỏ thuật VOVINAM hồi hộp và ngoạn mục. Chúng tôi cũng được vị Đại Úy chủ tọa buổi sinh hoạt CTCT đồng ý cho mặc quân phục Hải Quân màu tím khi xuất trại về phép.

Từ giã Quang Trung, nhiều bạn ( đa số thuộc đại độI 20 E) lên đường, tiếp tục thụ huấn khóa 21 Nha Trang, một số bạn về Sài Gòn, học Anh Văn, chờ đi du học. Rięng tôi vŕ một số bạn, vì sỉ số khóa sinh quá đông ( khoảng 650 ngươi ), Hải Quân không đủ quân trường huấn luyện nên được gửi đi thụ huấn tại trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức để ra trường và thụ hưởng quyền lợI Sĩ Quan sớm hơn. Tại trường Sĩ Quan Trừ Bị, tôi thuộc đại độI 16, và cũng là Sinh Viên Sĩ Quan Hải Quân duy nhứt ở đại độI này. Đại Úy Đức làm đai đội trưởng, Sĩ Quan Cán Bộ gồm có: Trung Uý Hiểu, (Sau nầy chết vě Việt Cộng pháo kích vào quân trường, ), Chuẩn Uý Bá (Tốt nghiệp Fort Benning Texas). Thành phần Sinh Viên Sĩ Quan gồm các binh chủng, Hải, Lục, Không quân, nhưng đa số là SVSQ Bộ Binh.

Tại trường Sĩ Quan Thủ Đức, khoảng 5 giờ sáng, chúng tôi “được” đánh thức, di hành lên đồi Tăng Nhơn Phú để học tập. Ai tập họp trễ sẽ bị phạt bò, hít đất, nhảy xổm. Khoăng 10 giờ tối thì về đến trại. Chúng tôi trải qua thật nhiều gian khổ trong những tuần huấn nhục như bài thơ mà Nguyên Sa đã ghi lại như sau:

Bây giờ khẩu Garant ta mang trên vai

Bây giờ khẩu trung liên Bar ta mang trên vai

Ta mới biết rằng những thỏi sắt đó nặng như thế nào.. . .. .

Bây giờ di chuyển đêm, di chuyển ngày, di chuyển nắng, di chuyển mưa

Ăn không được, ngủ không được , cười không được, khóc không được.. .

Tôi còn nhớ trong thời gian huấn nhục, có một SVSQ mang bịnh “buồn ngủ”, có lần sau khi mãn học ngoài bãi tập, thấy vắng anh, mọi người đổ xô těm kiếm . Cuối cůng khám phá là anh đã leo lên cây, dùng giây nịt, buộc vào cành cây và “đi vào giấc mộng”.

Đêm Di Hành là bài hát được các bạn tại Đại Đội 16 ưa thích nhất, bản nhạc có lời như sau:

Đêm di hành vượt qua ngàn núi non,

dù gian nan, dù chiến đãu.

Mặc bụi đường vẫn ghi lời hứa, ” Hây!”.

Mong xua tan quân bạo tàn để nước non thanh bình. Tàn đêm nay, tàn đêm mai, sương mênh mông lạnh buốt núi non….” (?)

Đầu tháng 5/70, chúng tôi về ứng chiến Sài Gòn, cũng trong lần nầy, tôi đă quen nhà tôi và chúng tôi đã thành hôn vào cuối năm 1974.

Sau ngày mãn khóa, tôi lại được gửi đi học trường Tổng Quản Trị ở đường Đồng Khánh, Chợ Lớn, rồi về tòng sự tại ban Huy chương, ban Hành Chánh 3, phòng TQT BộTư Lệnh Hải Quân. Được một thời gian ngắn, được biết có mở khoá du học OCS, tôi dự thi và trúng tuyển theo học Anh Văn trường Boat School ở góc đường Duy Tân- Hiền Vương Sài Gòn, tối đến sinh hoạt với các huấn luyện viên Hoa Kỳ bên Hải Quân Công Xưởng. Sau 2 tháng học tập, tôi được gửi đi thụ huấn hải nghiệp tại quân trường OCS.

Đến với quân trường OCS vào tháng 1 năm 1971. Tôi thuộc khoá 11 U/O ; ( O lŕ chữ viết tắt Officer, vě chúng tôi là Sĩ Quan Khóa Sinh ). Có tất cả ba khóa 10, 11, và 12 mà đa số khóa sinh là những Sĩ Quan Chiến Binh đã tốt nghiệp tại các quân trường Vỏ Bị Đà Lạt hay Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức nhưng chưa có chuyęn nghiệp quân sự. Sau ngày tốt nghiệp OCS, sẽ được cấp chuyên nghiệp quân sự nghành chỉ huy và được gọi là Hải Quân Thiếu Úy, hay Hải Quân Trung Úy… Trưởng toán của nhóm sĩ quan khóa sinh là Trung Úy Bùi văn Quang. Trưởng tóan SVSQ là anh Trần Hải Mank. Sĩ Quan Mỷ đại đội trưởng làTrung Úy Robert W. Auve. Tại quân trường OCS, chúng tôi đă được huấn luyện, hải hành tập độI, cơ khí phòng tai, hải pháo, vận chuyển, lý thuyết tàu bè, cơ khí và lãnh đạo chỉ huy, hàng hải cận duyên ( Piloting ), dùng những điểm cố định tręn bờ và la bàn để lấy hướng định toạ độ, vị trí chiến hạm tręn hải đồ; hàng hải phỏng định ( Dead reckoning ), hàng hải viễn duyên về thiên văn ( Celestial Navigation ), dùng sextant đo vì sao biết được trong chòm sao, đưa xuống chân trờI lấy góc độ, hướng, tra cứu sách thiên văn ( Star finder, H.O. 214, Nautical Almanac ) rồI vẽ lên hải đồ vị trí của con tàu; hàng hải điện tử, dùng ra đa để xác định vị trí. Chúng tôi được thực tập trên các tiểu đỉnh YP trong vůng vịnh Narragansette.

Học Trình tại quân trường OCS được họach định như sau:

VNN CURRICULUM BY SUBJECT AREA

SUBJECT AREA: ORGANIZATIONAL DIVISION HOURS

English Language ( Naval Terminology ) 90

The Shipboard Team 10 Division Officer Duties 5

105 Total

TECHNOLOGICAL DIVISION

Operation and Maintenance of Shipboard Equipment Introduction 7

Engines 21 Propulsion Drives 15 Electricity 22 Auxiliary Equipment 15 80 Total Casualty Control ( Ship Construction, Damage Control and fire fighting )

Ship Compartmentation 2

Fire fighting 21 Dammage Control 6

NBC Warfare 2 Stability 4

Deck Seamanship 4 25 Total TACTICAL DIVISION OOD

ProceduresYP’ s 12

Tactical Trainer 6 Shiphandling Theory 6

Rada 4

OOD 2 30 Total

Communication 25

CPA 8

Simple Formations 11

Rules of the Road 6 50 Total

Weapons 14 Unconventional Warfare 8 Amphibious Operations 4

Mine Warfare 2

Gunfire Support 2

30 Total

NAVIGATION DIVISION

Introduction 3

Charts and Aids to Navigation 12

DR, Piloting 14 Current 10 Compasses, Instruments 16 Sunrise and Sunset 4

P-Works 36 Celestial 56 151 Total

Intro. To Celestial Navigation 2

Time 4

Time Diagram 2 Nautical Almanac 9

H.O. 214 6 Methode and Problem Solving 6

Celestial Line of Position 2 Sextant Familiarization and use 4

Practical Work in Sights and Piloting 12

Test 9

56 Total

(Tài liệu từ quân trường OCS ).

Sau ngày hòan tất việc huấn luyện tại OCS, Newport Rhode Island, các khoá sinh được gửI đi thụ huấn về ” Chiến Tranh Sông Ngòi” ( Riverine Warfare ) tại Trung Tâm Huấn Luyện N.I.O.T.C. ( Naval Inshore Operation Training Center ) thuộc Mare Island, California. Các khóa sinh được thực tâp về độI hình, tác xạ, phục kích, tránh mìn, truyền tin, vận chuyển trong sông rạch trên những chiến đỉnh PBR, PCF. Trong những ngày thụ huấn tôi chỉ mong thờI gian chóng qua mau để sớm trở về quê hương. Được biết các bạn cùng khoá: Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Ngọc Chót, Nguyễn Hữu Hạnh, Huỳnh Trọng Nghĩa, Phạm Quang Huy, Đổ Anh Tuấn, Đinh Sĩ Vụ, hiện định cư tại Hoa kỳ. Riêng Nguyễn Văn Sĩ ( My roomate/Thuyền Trưởng PCF ) đă tử nạn trong lúc đưa tàu đi tuần tiễu trên vùng biển Năm Căn . Xin các bạn mỗi người một lời cầu nguyện cho linh hồn anh Sĩ.

Sau ngày tốt nghiệp từ quân trường OCS trở về, tôi được bổ nhiệm về phục vụ Giang Pháo Hạm Thięn Kích HQ 329. Hạm trưởng lŕ HQ Thiếu Tá Nguyễn Thành Sắc, khoá 11 Nha Trang. Hạm phó HQ Trung Úy Nguyễn Bích Ngân, khóa 17 NT. Sĩ quan gồm có Nguyễn Văn Phứơc khoá 19 NT, Lưu văn Nở, Khóa 20 NT, Vő văn Vân khóa 20 /CK/NT. Trần Trung Gấu, Khoá 21/CK/ NT. SQ các khóa OCS gồm có: Võ văn Bé, Nguyễn Kim Tuấn, Trần văn Hai. Đa số sĩ quan ở tàu đều có gia đình ở  Sài Gòn, riêng tôi và Trần văn Hai là “con bà phước” nên thường xuyên ở lại tàu trong khi hầu hết các sĩ quan khác đều về vớI gia đěnh trong những ngày tàu ở bến. Trong suốt thờI gian tôi phục vụ tại HQ 329, hầu hết thời gian công tác của chiến hạm là hoạt động vùng Năm Căn, Vũng Tàu. Trong chuyến công tác vùng Năm Căn năm 1972. Tàu suýt bị trúng lance bomb do Việt Cộng phóng từ bờ. Lúc đó, tôi đang đứng cạnh khẩu đại pháo 76 ly, bỗng thấy vật lạ từ bờ nhảy trên mặt nước hướng về phía chiến hạm, nhưng may mắn lŕàchiến hạm chạy giữa giòng sông, lance bomb bị chìm trước khi tới chiến hạm. Sau đó, Hạm Trưởng Sắc thuyên chuyển, HQ Thiếu Tá Lê văn Quế về thay thế. Khoảng tháng Giêng năm 1972, tôi được chấp thuận theo học khoá Căn Bản Sĩ Quan Chiến Tranh Chánh Trị tại Trung Tâm Huấn Luyện/CTCT/ Sài Gòn. Sau ngày tốt nghiệp, được chỉ định đảm nhiệm chức vụ Hạm Phó Tuần Duyęn Hạm Song Tử HQ 614. Vě chiến hạm đang công tác, tôi phải đáp phi cơ ra Phú Quốc trình diện tân đáo. Được biết vị Hạm Phó tiền nhiệm là HQ Trung Úy Nguyễn văn Quít khoá 19 Nha Trang, thường được nhân viên nhắc nhở, ca tụng vě ông là một sĩ quan tài giỏi, nhiều kinh nghiệm. Sĩ quan tạm thờI thay thế Trung Úy Quít là HQ Chuẩn úy Nguyễn Bão Đồng khóa 8 (?) OCS. Khi tôi đến đáo nhậm thì Chuẩn Úy Đồng đang nằm bịnh xá HQ Phú Quốc. Vài tháng sau, Chuẩn úy Đồng có lệnh thuyęn chuyển đi đơn vị khác, và HQ Chuẩn Úy Nguyễn Hữu Tòng khóa 22/NT về thay thế. Kỷ niệm đáng nhớ nhất về Chuẩn Uý Tòng đó là trong một lần công tác vùng biển Hà Tiên, sau khi bàn giao ca khoảng 12 giờ đêm lại cho anh. Tôi trở về phòng định đi ngủ, thình lình tôi nghe một tiếng “ầm” vang dội. Tòan thân tàu rung động, con tàu nghiêng nghửa, Đại Úy Cố Vấn Mỷ Dudley từ trên chiếc giừơng từng trên cao té xuống sàn tàu. Tôi có cảm tưởng tàu sắp lật úp và sẽ bị chìm. Tôi vội vàng lên đài chỉ huy, con tàu vẫn còn chòng chành, Chuẩn Uý Tòng cho biết có lẽ chiến hạm bị tàu Sealand đụng, bên hữu hạm bị vỡ một khoảng gần nửa thước cạnh khẩu đại liên phòng không 20 ly. Tôi cho bắn hỏa châu để quan sát, nhưng chiếc tàu gây ra tai nạn đã biến dạng vì trời tối và có quá nhiều tàu qua lại lúc ấy nên không thể phát hiện được.

Sau ngày mãn hạn công tác chiến hạm về Sài Gòn, khi tàu về gần đến Nhà Bè, chúng tôi có nhìn thấy một chiếc ghe nhỏ lái đâm đầu vào chiếc thương thuyền cở lớn, ghe bị chìm, chúng tôi dừng lại để cưú cấp, đợi khoảng 1 giờ, nhưng không thâý động tĩnh gě chúng tôi tiếp tục giang hành. Riêng chiếc thương thuyền, không biết có nhận thức tai nạn hay không? vẫn tiếp tục chạy biến dạng. Tàu về nghỉ bến, đậu trước Bộ Tư Lệnh Hạm Đội. Môt sáng sớm, khi tôi còn say ngủ, một thủy thủ đánh thức tôi dậy và cho biết tàu sắp chìm. Nhìn qua phòng Hạm trưởng thì thấy nước đã vào đến sàn tàu. Tôi vội vàng ra lệnh cột chặt chiến hạm vào hai tàu đậu kế bên, đồng thời gửI công điện thượng khẩn, yêu cầu BTL Hạm Đội cho toán phòng tai mang bơm xuống hút nước và đã cứu vãn được con tàu.

Trong thời gian phục vụ tại tuần duyên hạm HQ 614. Chiến hạm thường công tác taị Phú Quốc, Vũng Tàu, Năm Căn, Qui Nhơn, Nha Trang; nhưng nhiều nhất là Phú Quốc. Đặc điểm của Phú Quốc là tại An ThớI, mũi Ông ĐộI, có dấu bàn chân trên mỏm đá, luôn luôn có nước ngọt rịn ra.

Dạo chơi An ThơiI ròng đôi bửa

Giọc nước Bãi Kem tắm nắng đào. (3)

Bãi biển khá đẹp, du khách có thể tắm thoải mái tại Bãi Kem, Bãi Dung, Gềnh Dâu… Ngoài khơi quanh đảo Phú Quốc, du khách có thể thăm viếng các đảo Thổ Châu ( Poulo Panjang), Hòn Sơn Rái ( Tamassou ). Quán phở Bò Vàng và Hội Quán Bi Da do gia đình thân hữu Đổ Kỳ Nam khoá 6 OCS làm chủ là nơi qui tụ nhiều quân nhân đến ăn uống và giải trí . Trong lúc tuần tiễu vùng bắc đảo Phú Quốc, chúng tôi có dịp viếng thăm xứ Cao Miên. Có lần, Hạm trưởng Thiếu Tá Tùng, Đại Úy Cố Vấn Dudley vŕ tôi vào hoang đảo, ném lựu đạn bắt được rất nhiều cá Thác Lác, có con dài hơn 1 mét. Khi chiến hạm tuần tiễu vùng cửa sông Ông Đốc, chúng tôi bắt được một ghe đánh cá Thái Lan vi phạm lănh hải nước ta, chúng tôi áp giải ghe nầy về CCHQ/ Năm Căn. Sĩ Quan vŕ Thủy Thủ đoŕn mỗi người đựơc tưởng thưởng sáu ngŕn đồng. Trong lần yểm trợ hải pháo gần Căn Cứ Hải Quân Năm Căn, HQ 614 đă giải tỏa được áp lực địch đang tấn công mănh liệt vào đơn vị bộ binh, và đă đẩy lui được kẻ thù.

Năm Căn muổi đói vo ve khóc

Sông chụm đầu nhau quẫy sóng ca. (4)

Sau ngày hiệp định Paris được ký kết đầu xuân 1973. Cùng lúc vớI lệnh ngưng bắn được ban hành là thông điệp của Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đọc sáng ngŕy 28 tháng 1 năm 1973, kęu gọI đề cao cảnh giác âm mưu lấn đất giŕnh dân, đừng mắc vŕo cạm bẫy của cộng sản. Chúng tôi đang sắp khởi hành đi tuần tiễu thì nhận được lệnh công tác đến vùng Hòn Heo, gần tháp Hải Đăng Hà Tiên, theo chỉ thị, chúng tôi, phải triệt hạ lá cờ của Việt Cộng đang treo trên ngọn Hải Đăng đồng thờI yểm trợ cho Biệt Động Quân đang àŕnh quân trong vùng. Địch quân đă phục kích sẵn, chờ khi chúng tôi tiến sát gần bờ, chúng dùng đại bác 57 ly, B40, AK 47, bắn tớI tấp, chúng tôi vừa phản pháo, vừa rút lui ra vùng an toŕn, tránh khỏi hỏa lực uy hiếp của địch. Trong một chuyến công tác khác , chúng tôi ghé lại Hòn Heo, được chúa đảo là một cụ giŕ khoảng 70 tuổi ra đón rước, chúng tôi được dân hải đảo thết tiệc bằng món cháo lươn, nấu với bẹ môn, và họ trình diễn cho xem điệu múa Cao Mięn rất ngoạn mục. Khi mọi người đă trở về chiến hạm, chúa đảo còn gửi một cô gái độ 20 tuổi mang tặng thủy thủ đoŕn 1 buồng chuối, chúng tôi nhận quà và ngỏ lời cảm ơn hảo ý của dân hải đảo.

Sau chuyến công tác Năm Căn, chúng tôi về BTL Hạm ĐộI, nghỉ bến được 1 tuần lễ, thì nhận được lệnh công tác vùng 2 Duyęn Hải. Nha Trang nổI tiếng là nơi danh lam thắng cảnh, vớI hàng thùy dương và bãi biển cát trắng chạy dài từ Đại Lãnh-Văn Phong- Cà Ná; ngoài khơi có khoảng 6 hải đảo mà lớn nhất là Hòn Tre. Ở Hòn Yến, ngườI ta có thể tìm thấy yến sào do lòai chim yến ( Salegane ) dùng nước miếng tạo ra, tổ yến được dùng làm thực phẩm rất quí và đắt tiền.

Non nước hữu tình nhất trời Nam

Nhàn du ngoạn cảnh ngắm danh lam

Tháp Bà nhẹ bước người vào viếng

Cầu Đá chen chân khách đến thăm. .. (5)

Khi cập bến Cầu Đá, tôi có gặp anh Phạm Đình Nhật Hà khoá 12 OCS và cũng là ngườI bạn từ trại Bạch Đằng 2 & TTHL/ Quang Trung. Anh Hà là thuyền trưởng Coast Guard. Khi tàu nhập vùng được 1 tuần thì Hạm trưởng đi phép về Sài Gòn thăm gia đình, còn lại một mình, trẻ tuổI, lại ham vui; nghe theo lờI “dụ dỗ” của thủy thủ đňan, tôi và đòan tùy tùng, khoảng tám ngườI kéo nhau vào bờ dạo chơi gần căn cứ Đại Hàn ở Vũng Rô rồi ở lại ngủ đêm, sáng hôm sau, nhờ ghe đánh cá đưa ra tàu. May mắn cho chúng tôi đă không bị sát hại ! Một lần khác, chúng tôi tắt liên lạc vô tuyến vào Đại Lãnh, tìm thịt heo rừng cho thủy thủ đoàn có thêm chút dinh dưỡng. Chúng tôi có tặng một ít gạo cho vài gia đình tử sỉ có thân nhân bị cộng sản sát hại. Trong lúc đang quan sát lớp học với đám học trò trẻ con nghčo xơ xác thì có đoan ghe Yabuta, và phi cơ bay lượn vờn quanh. Những người lính trên tàu cho biết, vùng 2 Duyên Hải đang báo động vě nghĩ rằng chúng tôi là tàu Bắc Việt xâm nhập. Chúng tôi vội vàng tách bến, trở lại vùng công tác.

Khoảng tháng 4 năm 1974, tôi mang chiến hạm HQ 614 ra đại kỳ ở Căn Cứ Hải Quân Sơn Chŕ. Sau ngày nghỉ phép từ Sài gòn trở ra Đà Nẵng, Tôi đã gặp lại anh Trần Văn T, người bạn thời niên thiếu cùng làng . Lúc gặp tôi, anh T là Thiếu Uý Bộ Binh ra Đà Nẵng tân đáo đơn vị, T có nhờ tôi trao lại phong thư cho người yêu của anh ở Mỷ Tho. Tôi đă làm điều mà anh căn dặn; nhưng ” tiếc thay rằng tình chung không ngủ trên môi” (?), chĩ sau ba ngày sau, trên đường trở về Saì Gòn để đáp phi cơ ra Đà Nẳng, tôi đă gặp người tình của T đan tay dạo phố với một HQ Trung Úy! Trong thời gian tàu đại kỳ ở Đà Nẵng, quân số chiến hạm đă giảm thiểu chỉ còn độ 1/3, chỉ đủ canh gác và thử đường trường. Tôi và Hạm Trưởng Tùng ngòai thời gian liên lạc hợp tác với hải xưởng Đà Nẵng để cho công việc Đại Kỳ tiến hŕnh tốt đẹp, chúng tôi có được chút thời giờ viếng thăm thŕnh phố Đà Nẵng. Rất tiếc, dạo đó tôi đă không có dịp ra Huế để viếng Cố Đô. Du lịch Đà Nẵng, du khách nęn viếng những thắng cảnh và di tích lịch sử địa phương như: Đčo Hải Vân, Ngũ Hŕnh Sơn, Núi Bà Nà, Chùa Linh Ứng, và Viện Bảo Tàng Chàm. Mỗi chiều cuối tuần Lê Văn Nhẫn ( Cùng làm chung vớI tôi ở phòng TQT /BTL/ HQ năm 1970 ), Nguyễn Cao Bách, Bác Sĩ Phạm Khắc Hiệu, Dược Sĩ Cao Thái Thành ( tất cả các bạn đều là Trung Úy ), mang xe jeep đón chúng tôi đi dạo phố Đŕ Nẵng, ghé quán Thięn Nga, Thạch Thảo, nghe nhạc, uống cà phê. Đôi khi, những ngày cuối tuần, tôi còn có cơ hộI bay về Sài Gòn để thăm ngườI yêu. Cuối tháng 7 thì công việc đại kỳ đă hoàn tất. Hải quân Đại Uý Nguyễn Hữu Thiện về thay thế HQ Thiếu Tá Nguyễn Văn Tùng. Đại Úy Thiện và tôi đưa chiến hạm về SŕàGòn.

Sau hơn ba năm phục vụ trên 2 chiến hạm thuộc Hạm Đội, tôi được ân thưởng bằng Tưởng Lục, Chiến Dịch, Quân Vụ, Kỷ Thuật, và Hải Vụ Bội Tinh; tôi xin học khóa Trung Cấp CTCT và được chấp thuận. Sau khi bŕàn giao chức vụ Hạm phó cho HQ Trung Úy Nguyễn Hữu Minh, tôi về trình diện BTL/HQ/ P. CH, và được gữi đi thụ huấn tại Đại Học CTCT Đŕ Lạt. Ban giảng huấn trường Đại Học CTCT gồm có: Tiến Sĩ Nguyễn Thị Huệ, Tiến Sĩ Phó Bá Long, Tiến Sĩ Nguyễn Hoàng Giáp, Tiến Sĩ Thượng Tọa Thích Giác Đức, Linh Mục Nguyễn Văn Vàng , Luật Sư Nguyễn Hữu Thống ,vŕ các Sĩ Quan cơ hữu của trường. Chúng tôi học về Tình Báo, Tâm Lý Chiến, Chính Huấn… Trường Đại Học CTCT tọa lạc trong thŕnh phố Đà Lạt, thị trấn nổI tiếng vớI Trường Vő Bị, thác Cam Ly, hồ Than Thở,

Đứng trên triền dốc nhìn xuống hàng thông. Hàng cây thẫm màu đèn lên phố phường..

Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ

Màu lam tím Đà Lạt sương phủ mờ… (6)

Sau ngày ra trường, tôi được bổ nhậm vào ban Giáo Dục Chính Trị thuộc Bộ Tư Lệnh Hải Quân/ Phòng Chính Huấn. Trưởng Phòng là HQ Trung Tá Phạm Thành Long. Sĩ Quan gồm có các Đại Úy CTCT: Đỗ Hửu Danh, Lê Văn Soại, Phạm Ngọc Hòa. Sĩ Quan OCS: Lê Tín Thành, Nguyễn Thái Hùng. Thiếu Úy Đòan Viên Lê Thùy Anh. Trong thời gian nầy, tôi có gặp bạn Hà Đăng Ngân (OCS 8), người về từ Hoàng Sa; anh kể lại trận chiến lịch sử màcác chiến hữu HQVN đă can trường chiến đấu chống quân xâm lược Trung Cộng vào tháng Giêng năm 1974. Được biết Ngân hiện định cư tại Hoa Kỳ, mong anh tường thuật lại thiên phóng sự hăn hữu mà anh đựơc vinh dự tham chiến.

Trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến. Tôi có nhiệm vụ tiếp đón các đơn vị di tản chiến thuật từ miền Trung về tạm trú tại Căn Cứ Hải Quân Cát Lái. Từng đoàn tàu từ miền Trung, đưa binh sĩ, gia đěnh quân nhân cůng đồng bŕo tị nạn. Hàng vạn đồng bào và quân nhân đã được đón nhận tại căn cứ này . Thực phẩm không đủ phân phối cho tất cả moị người. Tôi cũng nhận được tặng vật của một nhà hảo tâm trao tặng gồm hai xe chở đầy chao và phân phối cho tất cả mọI người. Khoảng 1 tuần lễ trước ngày 29/4/75., trong khi tôi đang thuyết trình tại Câu Lạc Bộ nổI BTL/HQ thì được lịnh hòan trả súng đạn lại kho vũ khí. Các chiến hạm cập bến tại Sài Gòn được tiếp tế thực phẩm, nhiên liệu đầy đủ. Đêm 28/4/75., Việt Công pháo kích, đạn pháo rớt xuống sông Sài Gòn và khách sạn Majestic . Trưa ngày 29/4/75., tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy đồng bào đổ xô xuống tàu càng lúc càng đông. Khoảng 4 giờ chiều, tôi quá giang Đại Uý CTCT Đỗ Hữu Danh về nhà.

Khi tôi trở lại Bộ Tư Lịnh Hải Quân và khoảng 6 giờ chiều thì có lệnh tập hợp, HQ Đại Tá Đỗ Kiểm thông báo: Sĩ Quan hăy về nhà đưa gia đěnh theo Hạm Đội di chuyển chiến thuật ra Côn Sơn. Tôi vội ra trước cổng BTL/HQ thě gặp HQ Trung Úy Lê Minh Đạo khóa 10 OCS. Anh Đạo hốt hoảng hỏi nên làm gì ? Tôi khuyên anh nên đưa gia đình di tản theo Hạm Đội. Khi ra khỏi cổng, tôi gặp được người lính cũ ở HQ 614. Anh đă dùng xe Honda đưa tôi về nhà tận phi trường Tân Sơn Nhất. Khi tôi vào nhà thì cả gia đình đang chờ tôi. Nhạc mẩu tôi cùng gia đình mang hành lý rời nhà khoảng 100 mét thì đạn pháo kích nổ gần bên làm mọi người hoảng sợ chạy trở về nhà. Mẹ vợ tôi đưa tiền cho vợ tôi vŕàkhuyên chúng tôi hãy ra đi. Những người đi theo tôi lúc bấy giờ chỉ còn có đứa cháu thuộc binh chủng Không Quân, hai mẹ con ngườI hàng xóm và vợ tôi .

Khi chúng tôi rời nhà khoảng một cây số thì may gặp một quân nhân thuộc binh chủng Nhảy Dù đang lái xe jéep, chúng tôi xin quá giang và được anh đưa đến cổng Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Tôi ngỏ ý là nếu anh muốn, tôi có thể giúp anh cùng xuống tàu theo Hạm Đội. Anh cám ơn, nhưng từ chối, và cho biết sẽ ở lại tử thủ. Tôi tặng anh số tiền mà mẹ vợ tôi vừa cho. Vào tới Bộ Tư Lệnh thì đã 10 giờ tối, Thượng Sỉ Định, Quản Nội Trưởng có đưa tôi khẩu súng Carbine mang theo để phòng thân, tôi không lấy, chỉ mang theo chiếc chăn ngủ. Khi tôi và gia đěnh đến bến, tàu đă đầy ứ người. Bình thường, Khu Trục Hạm Trần Hưng Đạo/ HQ 1 chỉ chứa được khoảng 200 người. Lúc đó, theo tôi phỏng định, có vào khoảng 2000 người. Một số quân nhân khóc nức nở vě không mang đựơc gia đình theo! Vài sĩ quan trẻ quá thất vọng, đă nông nổi vứt cả súng ống xuống sông. Khi tầu ra gần Vũng Tàu thì Phó Đề Đốc .. .(?) ghé tàu để đón gia đình. Khi tàu cập bến bị bể bên hông phía sau lái. Đến Côn Sơn, tất cả chiến hạm tụ họp lại với nhau và được loan báo là Hạm ĐộI sẽ rời Việt Nam để đi Phi; sẽ có chiến hạm đưa những người muốn ở lại trở về Vũng Tàu. Gia đình tôi chuyển sang Cơ Xưởng Hạm Cần Thơ HQ 801 vì H.Q 1 chứa quá nhiều người và bị hư hại. Trên hải trình đi Phi, HQ 801 cũng đón nhận thêm nhiều quân nhân cùng đồng bào muốn quá giang. Chiến hạm cũng cho phép một phi cơ trực thăng hạ cánh mang theo một Đại Tá Bộ Binh, đoàn tuỳ tùng và viên Phi Công. Tình trạng sinh hoạt trên chiến hạm ngày thêm tồi tệ, khan hiếm thực phẩm và nước uống; may mắn, tôi tìm được ít cơm khô mà ai đó đă phơi cạnh bęn ống khói tàu. Có lần vợ tôi quá đói, đau lòng khi thấy thai nhi bò quậy trong bụng mẹ, tôi liều lĩnh vào khu ẩm thực định tìm chút nước uống và thực phẩm cho vợ thì bị một Thiếu Uý Bộ Binh (?) cản đường không cho vào. Tôi lên phòng Sĩ Quan tìm bạn. May mắn, gặp được HQ Trung Úy CK Lê Đăng Bảo, ( Khóa 21 Nha Trang ) anh Bảo cho vài hộp cá hộp, nhờ đó mà vợ con tôi đở đói. Hôm sau lại được tàu chở dầu của anh Lý Thái Thạnh ( Thân hữu Bạch Đằng 2 & Quang Trung ), anh Thạnh tặng hai thùng chao. Tôi chia sẻ lại cho đồng bào, chỉ giữ lại vài hộp. Lúc đó, tôi thật vô cùng cảm kích, các bạn đã nhường thực phẩm của chính mình cho chúng tôi trong lúc khan hiếm,

Miếng khi đói, gói khi no,

Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng. (?)

Trước khi chiến hạm vào lãnh hải Phi Luật Tân, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi khi nhìn thấy lá quốc kỳ VNCH được hạ xuống để chuyển giao tàu lại cho ngườI Mỹ.

Từ Phi, chúng tôi được chuyển sang một thương thuyền khác để sang đảo Guam. Tại Guam, nhiều trại lính bằng vải bố đă được dựng sẵn. Trên đoạn đường dài vŕàrộng, có nhiều nhà tắm và nhà vệ sinh lộ thiên. Ngày ba buổi, ngườI tị nạn xếp hàng đi nhận thức ăn. Sống ở trại tỵ nạn được khoảng một tháng thì chúng tôi được chuyển đến trại Indiantown Gap tiểu bang Pensylvania. Tại đây, vợ tôi đă hạ sanh đứa con đầu lòng và chúng tôi đă đặt tęn cho con là Hòai Nam để tưởng nhớ về Quê Hương Việt Nam.

Khi tình nguyện gia nhập binh chủng Hải Quân, tôi chỉ có một ý niệm đơn thuần: Thi hành nhiệm vụ công dân. “Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách” (?). Tuy nhiên, qua Trại Bạch Đằng 2 và những quân trường thụ huấn ( Tổng Quản Trị, Đại Học CTCT, Sĩ Quan Trừ Bị, OCS.), ngòai những kiến thức cần thiết cho một Sĩ Quan Hải Quân học hỏi được, tôi còn may mắn quen thân nhiều bằng hữu quí mến, các bạn là những thanh niên ưu tú, đă nhiệt tình đáp ứng lờI kêu gọi của Tổ Quốc khi Sơn Hà nguy biến.

Binh Chủng Hải Quân đă cho tôi cơ hộI trực tiếp đi, thấy, phụng sự quê hương, vŕ thủ đắc được nhiều kinh nghiệm mà tôi khó có thể tìm thấy ở đờI sống dân sự. VớI tất cả tấm lòng chân thành của một ngườI dân yêu nước, chúng tôi đã dâng hiến quãng đờI thanh niên tươi đẹp nhất để chiến đấu cho Quê Hương Việt Nam được độc lập, tự do, dân chủ, thịnh vượng vŕàtiến bộ. Nhưng rồi vận nước không may,” mưu sự tại nhân, thŕnh sự tại thiên !” “(?). Biến cố đổI đờI 30 tháng 4 năm 1975 đă đưa đẩy tôi lưu lạc hơn nữa vòng trái đất. Ngày nay, dù cuộc sống ở Hoa Kỳ đă tương đối được ổn định, nhưng mỗI lần hồi tưởng về cuộc chiến cũ, tôi không khỏi ngậm ngùi: Trải qua một cuộc bể dâu,

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng ! (7) Thượng Đế vẫn còn dành cho Quê Hương Việt Nam nhiều khổ lụy !

” Bắt phong trần phải phong trần. Cho thanh cao mớI được phần thanh cao.” (8).

 

Ghi Chú:

(?) Không nhớ tên.

(1) Nhạc phẩm LờI Tình Buồn. Vũ Thành An. (2) Nhạc phẩm Vườn Tao Ngộ. Nhật Hà.

(3)&(4) Thơ Thiên Cổ Bùi Ngùi. Phạm Hồng Ân. Thơ Nha Trang Tâm Bút. Nguyễn Vĩnh Châu. Nhạc phẩm Đà Lạt Hoàng Hôn. Minh Kỳ & Dạ Cầm.

(7) & (8) Thơ Truyện Kiều. Nguyễn Du.