1. Bài Chọn Lọc

Ông nào muốn đạp xích lô ?

Peter Tran

Năm đời chồng vẫn còn din.
Nếu đi bước nữa em tìm Xích lô.

Một cô gái công tác ở Tổng cục chính trị. Sau khi ra tòa ly dị đời chồng thứ năm, cô đề nghị tòa xác nhận cho cô vẫn còn… “Din”. Tòa yêu cầu lý do thì cô òa lên khóc và nói :
– Em khổ lắm ! Mang tiếng là có năm đời chồng nhưng em có được cái nào đâu. Đời chồng thứ nhất của em là anh cán bộ tuyên huấn “Nói mà không làm”. Đời chồng thứ hai là anh cán bộ kế hoạch “Vạch ra mà không thực hiện”. Chồng thứ ba của em là anh cán bộ bảo tàng “Không được sờ vào hiện vật”. Đời chồng thứ tư là anh cán bộ bảo mật lúc nào cũng “Niêm phong chặt chẽ”. Rút kinh nghiệm bốn đời chồng trước, xem phim hình sự em thấy các anh hình sự là những con người của hành động vì vậy đời chồng thứ năm em quyết định lấy anh cán bộ hình sự. Tưởng ngon, nào ngờ tránh vỏ dưa lại gặp phải vỏ dừa. Em lại gặp phải anh “Giữ nguyên hiện trường”. Thế là đã 5 lần kết hôn mà em vẫn còn din. Nghe đương sự trình bày tòa chấp nhận lời đề nghị hợp lý đó nhưng hỏi thêm : Nếu phải đi bước nữa thì đương sự sẽ chọn đối tượng nào? Lập tức cô gái trả lời :
– Lần này là em sẽ lấy anh đạp xích lô vì cứ lên là anh ấy …đạp.

Tôi Yêu Lá Cờ Vàng

Kính thưa Quý Vị

Trong nhà có 5 cây cờ Vàng ở 3 nơi: phòng khách, phòng giải trí, phòng học thì 3 lá cờ. Trên nóc nhà thì có cờ Vàng. Xe thì có 2: một ở kiếng sau xe, một ở kiếng trước cho mọi người thấy. Lá cờ Quốc Gia VNCH đã theo vận nước từ năm 1975 nhưng ở đâu có người Việt, ở đó có cờ Vàng. Cá nhân tôi từng hạ cờ VC ở những văn phòng, trường học, trung tâm giữ trẻ đồng thời mỗi lần hạ là mỗi lần cờ Vàng được treo lên, như ở trung tâm giải trí có số người thăm viếng đông đảo nhất nước Úc – Gold Coast. Trường tiểu học với hơn 200 lá cờ Vàng trong ngày lễ sống vui vẻ hòa đồng, Harmony Day. Đó chỉ là vài trong nhiều trường hợp hạ cờ đỏ vương cao cờ Vàng tại Brisbane.

Từ lúc sinh ra đời, 18 năm dưới chế độ VC, tôi không thấy lá cờ VNCH, chỉ thấy trong 1 vài hình ảnh năm xưa của gia đình còn sót lại sau ngày đen tối 30/4. Từ khi vưọt biển tới Thái Lan, tôi thấy cờ Vàng trong các buổi lễ trong trại tị nạn và như trong tiềm thức của tôi, đó là lá cờ của tôi của đồng bào miền Nam
Chắc chắn, tôi không là lính, tôi không bị thương hay sống sót vì nhiệm vụ bảo vệ ngọn cờ được cắm lại trong vùng bị chiếm, tôi sẽ không được đặc quyền phủ cờ khi chết, tôi không được cái niềm vinh hạnh Tổ Quốc Ghi Ơn nhưng không có nghĩa là tôi không được quyền yêu lá cờ Vàng của tôi, không có nghĩa là tôi không được quấn xác bằng lá cờ Vàng của tôi khi tôi chết.

Tôi viết những dòng chữ này như một di nguyện, nếu chẳng may tôi có chết vì bất cứ lý do gì tôi muốn lá cờ Vàng sẽ quấn xác tôi. Vì:

1. Tôi yêu lá cờ Vàng, với tôi là vật thiêng liêng. Sống: nâng niu tôn kính, chết: mang theo. Lá cờ này không của riêng ai. Có nhiệm vụ truyền lại cho con cháu.

2. Đó là lá cờ tôi đã tranh đấu, thuyết phục để các cơ quan văn phòng trường học treo lá cờ này nếu có những sinh hoạt liên quan đến người Việt hải ngoại.

3. Tôi tranh đấu để giương cao biểu tượng cờ Vàng, tôi quảng bá cờ Vàng đến chính phủ Úc, ( ở cả 3 cấp chính phủ Úc tôi đã trao tận tay bà Julia Gillard lúc đó là đương kim Thủ Tướng Úc đã tiếp nhận, đến ông Chủ Tịch Quốc Hội Tiểu Bang Queensland, đến Nghị Viên Milton Dick)

4. Tôi không là lính VNCH, tôi tôn trọng lễ nghi quân cách nhưng điều đó không áp dụng cho tôi. Tôi muốn được quấn xác phủ cờ vì tôi là con dân VNCH.

5. Tôi đã mất Tổ Quốc, thân xác tôi không được chôn trong lòng đất mẹ, lá cờ Vàng là đất mẹ của tôi, vì vậy tôi muốn lá cờ quấn xác tôi, phủ quan tài của tôi như thể tôi được ôm trong vòng tay của đất mẹ, hoàn toàn không phải vì Lễ Nghi Quân Cách.
Đây cũng là lời cảnh báo đến những người độc đoán. Tôi tôn trọng ước nguyện, nguyên tắc của những người đó không có nghĩa là tôi không được mãn nguyện hoài bão của tôi. Lễ Nghi Quân cách của các vị, xin các vị cứ giữ lấy, tôi sẽ trân trọng. Ước nguyện, hoài bão của tôi, tôi phải được. Không một ai có thể lấy cờ Vàng ra khỏi tôi từ thể xác đến tinh thần. Không ai có quyền cấm cản xương cốt của tôi được hòa tan theo lá cờ Vàng Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi lập lại 1 lần nữa: tôi đã mất Tổ Quốc, thân xác tôi không được chôn trong lòng đất mẹ, lá cờ Vàng là đất mẹ của tôi, vì vậy tôi muốn lá cờ Vàng quấn xác tôi, phủ quan tài của tôi như thể tôi được ôm trong vòng tay của đất mẹ.

Kính

Tuan Le

Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán

Posted by: Trinh Huynh

Toàn cảnh Chí Hòa

Người Trung Hoa rất tự hào về Vạn Lý Trường Thành. Đó là một bức tường thành được xây dựng bằng đất và đá từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên đến thế kỷ 16. Tường thành bảo vệ Trung Hoa khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ và rất nhiều bộ tộc du mục khác.

Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa, đã có sáng kiến xây Vạn lý Trường thành từ năm 220 trước công nguyên nhưng phần tường này chỉ còn sót lại một vài di tích. Vạn Lý Trường Thành ngày nay, với chiều dài khoảng hơn 6.000 km, cao 7 m, được xây dưới thời nhà Minh và người Trung Hoa rất tự hào về nó.

Thế cho nên con cháu Thiên Tử mới có câu “Bất đáo Trường thành phi hảo hán”, hàm ý chưa đến Trường Thành chưa phải là hảo hán. Sang đến Việt Nam, giới giang hồ “số má” lại đổi tên Trường Thành bằng Chí Hòa: “Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán”.

Chí Hòa là nhà tù được xây dựng năm 1943 thời thuộc địa Pháp nằm tại Số 1 đường Hòa Hưng (Q. 10), Sài Gòn. Vào thời đó, đây là nơi giam giữ tù chính trị. Sang đến thời VNCH cũng là nơi giam những người chống đối chính quyền và tội phạm hình sự. Sau năm 1975, Chí Hòa là nơi “nghỉ mát” hay “gỡ lịch” của giới giang hồ cũng như tù chính trị.

Có nhà văn nào đó đã từng viết: “Đối với người tù Sài Gòn, khám Chí Hòa được ví như trường đại học Harvard của Mỹ, Eton của Anh và Sorbonne của Pháp”. Nếu ở Mỹ có Ngũ Giác Đài (còn gọi là Lầu Năm Góc) thì ở Việt Nam có Chí Hòa là một công trình xây dựng hình bát giác khép kín với một tầng trệt và 3 tầng lầu.

Ngày nay, mỗi cạnh của hình bát giác là một ô, được đánh số thứ tự từ A đến H. Toàn bộ nhà tù được chia thành 6 khu, trong đó khu ED dành cho tù chính trị, AH dành cho tù vượt biên và các khu còn lại dành cho tù hình sự, trong khu FG còn có cả các phòng tù nữ.

Trên một khu đất rộng khoảng 7 hécta, hơn 200 phòng giam đều hướng về tâm của hình bát giác, nơi có một tháp nước với lỗ châu mai hướng về các phòng giam với 4 loa phóng thanh và trên đỉnh là một cột cờ. Tháp mước mang hình tượng một thanh gươm lớn, yểm âm dương, phong thủy, càn khôn, vũ trụ. Thanh gươm cắm mũi xuống đất nhắc nhở một khi đã lọt vào vòng bát quái rất khó tìm được lối ra.

Mô hình “lò bát quái” Chí Hòa
 
Thanh gươm cắm xuống đất để… yểm bùa!

Chí Hòa là vùng đất “linh thiêng” vẫn thường xảy ra sấm sét mỗi khi giông bão. Có đến ngàn lẻ một huyền thoại về khám Chí Hòa, điển hình như “con-ma-vú-dài” thỉnh thoảng vẫn chọc phá tù nhân.

Tại đây còn lưu lại máy chém có từ thời Pháp thuộc được chuyển từ khám Catinat sang và do Đội Phước phụ trách. Người cuối cùng chết dưới máy chém này là Ba Cụt, tức Lê Quang Vinh, tướng Hòa Hảo, dưới thời Ngô Đình Diệm. Chính ông Ngô Đình Cẩn, bào đệ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, cũng bị xử bắn sau một thời gian bị giam giữ tại Khám Chí Hòa.

 Cơ duyên nào đã gắn cuộc đời tôi với Khám Chí Hòa?

Hồi đó cuối là đầu thập niên 80, người Sài Gòn âm thầm vượt biên. Bạn bè chừng một tuần không thấy mặt là người ta nghĩ ngay đến những chuyến vượt biển. Gặp lại người quen với cái đầu trọc lóc ta nghĩ ngay đến chuyện ra khơi nhưng không gặp may nên bị cạo đầu ngồi tù. Cửa nhà bỗng nhiên khóa im ỉm sẽ được suy diễn là cả gia đình đã ra ra đi.

Cơn sốt bỏ nước ra đi diễn ra ngày càng tăng, kéo theo phong trào học tiếng Anh “chui”, tức là lén lút. Gia đình khá giả thì mời thầy đến tận nhà kèm riêng hoặc một nhóm góp chung tiền mời thầy đến để luyện tiếng Anh.

Cái nghề giảng viên Anh ngữ của tôi tưởng chừng như đã hết đất dung thân nay bỗng nhiên sống lại. Thế là một cuộc “đổi đời lần 2” lại bắt đầu sau thời cải tạo. Đang từ anh “lao động phổ thông” trong một tổ hợp xây dựng, anh trông hàng ngoài chợ Bình Tây rồi chuyển sang nghề bỏ mối lò dầu hôi.. cuối cùng nhảy lên làm… thầy.

Năm 1971, tôi được đào tạo giảng viên Anh ngữ ở Hoa Kỳ, sau đó lại được Trường Sinh ngữ Quân đội gửi đi tu nghiệp một lần nữa năm 1974. Với trình độ tiếng Anh và kinh nghiệm giảng dậy, “anh bán lò” trở thành một người thầy đáng tin cậy của những người ôm mộng vượt biên.

Tôi đã từng mất rất nhiều học trò chỉ vì họ ra đi vội vã không kịp từ giã thầy. Chẳng biết họ có đến được đảo hay lại bỏ mình giữa biển khơi. Người Sài Gòn thường nói “Nếu con đi thoát thì con nuôi má nhưng nếu con chết thì… con nuôi cá”.

Học trò ra đi nhiều, chỉ mỗi ông thầy là ở lại vì… thiếu “cây” để lên tầu. Người Sài Gòn khi đó có thói quen gọi 1 lượng vàng là “một cây”. Tôi lo phải chạy ăn từng bữa cũng đã thấy bở hơi tai thì “cây” đâu để tính chuyện vượt biên?

Nhưng có lẽ “thánh nhân đãi kẻ khù khờ” nên có một gia đình học trò người Hoa khá giả, đăng ký cho một xuất “vượt-biên-bán-chính-thức”. Điều kiện khá dễ dãi: “Đi trước, trả sau”!Có lẽ họ cũng tin tưởng vào trình độ Anh văn của thầy giáo sẽ hỗ trợ gia đình họ trong những bước đầu chăng?

Sài Gòn rầm rì bàn tán về chính sách “vượt-biên-bán-chính-thức” của nhà nước dành cho các “xì thẩu” Hoa kiều. Đơn giản vì họ là những người giàu nhất nước, tha hồ mà thu hàng đống “cây vàng”. Người ta còn đồn họ vượt biên bán chính thức bằng cả tàu sắt nhưng lại cũng có tin nhiều chuyến đi đã bị lừa.

Sau một đêm suy nghĩ, đắn đo, tôi quyết định phải chụp lấy cơ hội để thoát, lại còn xin thêm một “nửa vé” cho cậu con trai đầu lòng. Không đất dung thân ở nơi này. Không hộ khẩu, không việc làm ổn định, không tương lai nếu cứ tiếp tục cuộc sống bên lề xã hội.

Ra đi cũng đồng nghĩa là đương đầu với những bất trắc nhưng ít ra cũng còn một chút ánh sáng nơi cuối đường hầm với hy vọng cứu được gia đình. Ở lại là tiếp tục mò mẫm trong một đường hầm tăm tối, hoàn toàn không có lối ra.

Chiếc tàu vượt biên “bán chính thức” đón khách ngay tại chân cầu Cát Lái thuộc địa phận quận Thủ Đức. Người ta lên tàu vào buổi chiều, có cả một số thân nhân đưa tiễn! Tàu bằng gỗ, chỉ dài hơn 10m, khoang bên dưới đàn ông ngồi bó gối, xếp lớp như cá mòi, phía trên là trẻ em và phụ nữ.

Dù mang tiếng là đi “bán chính thức” nhưng mọi người vẫn căng thẳng trước những bất trắc của cuộc hành trình hứa hẹn nhiều sóng gió…

Sóng gió đâu chưa thấy mà chỉ nghe tiếng súng AK đồng loạt nổi lên cả ở hai bên bờ. Lực lượng vũ trang quận Thủ Đức lên tàu, ra lệnh cho tài công lái tàu về… bến Bạch Đằng. Tại đây có hai chiếc Molotova chờ sẵn để đưa những người vượt biên về thẳng… Khám Chí Hòa. Mọi chuyện diễn ra hoàn hảo như một kịch bản phim!

Thủ tục nhập trại giam tiến hành một cách nhanh chóng: phụ nữ và trẻ em được thả ngay, trong đó có con tôi. Đàn ông sau khi khai báo họ, tên, địa chỉ được đưa vào 2 phòng giam thuộc khu AH trong lò bát quái Chí Hòa. Duyên may của tôi với Chí Hòa là vậy!

Chí Hòa là nơi có những đêm khuya thanh vắng tù đang ngủ phải giật mình thức giấc vì tiếng hét lanh lảnh của phạm nhân: “Báo cáo cán bộ, phòng… có người cần cấp cứu!”. Hai chữ “cấp cứu” dội lại trong lò bát quái nghe như tiếng gọi của tử thần từ một nơi xa xăm nào đó.

Chí Hòa là nơi có “những đêm giã từ” của những phạm nhân vừa ra tòa nhận án để lên đường đến các trại cải tạo lao động. Họ tổ chức đêm “nhạc sống” từ phòng giam. Họ hát từ nhạc vàng đến vọng cổ, từ blue đến rock để các bạn tù ở phòng khác cùng thưởng thức. Họ bất cần vì đã nhận án và sẽ sớm từ giã Chí Hòa. Xen lẫn với giọng nam có cả những giọng nữ cũng tham gia văn nghệ “live show” bỏ túi…

Cuộc sống tại Chí Hòa khác hẳn với sinh hoạt ở trại cải tạo. Ở Chí Hòa chỉ quanh quẩn với 3 bức tường và 1 hàng chấn song sắt. Ngày hai bữa cơm, tuần được phép xuống sân tắm rửa, giặt giũ một lần trong vòng 20 phút.

Ở trại cải tạo, dù cũng mang tiếng là ở tù, nhưng không gian rộng rãi hơn để sinh họat. Quan trọng hơn cả, Chí Hòa gom đủ thành phần xã hội phức tạp trong khi tại trại cải tạo chỉ chung một thành phần sĩ quan “ngụy”.

Tiếng là khu tù vượt biên nhưng trong phòng cũng xen lẫn một số tù hình sự chưa bị kết án. Đám thiểu số này lại nổi bật giữ đám tù vượt biên, nắm trọn quyền sinh sát. Họ giữ từ chức Trưởng phòng, Phó phòng đến Trật tự viên, Thư ký, Tổ trưởng.

Trong phòng luôn xảy ra chuyện “đi-chợ-đêm”, nhất là sau những ngày thăm nuôi. Kẻ trộm thường là những tay tù hình sự, không thăm nuôi, hay còn gọi là “Con Bà Phước”. Bọn chúng “đi chợ” vào ban đêm khi những người tù ngủ say. Chúng lục giỏ cói để tìm thức ăn khô và thường thanh toán “chiến lợi phẩn” ngay tại chỗ để phi tang. Người nằm bên cạnh “khổ chủ”, dù có thấy nhưng vẫn phải làm ngơ vì sợ trả thù.

Hình thức trả thù kinh sợ nhất là màn “hỏa tốc”, có nghĩa là đốt bao nylon cho chảy thành nhựa rồi quăng vào nạn nhân. Nhựa nylon nóng hổi bám chắc vào da thịt với âm thanh xèo xèo nghe rợn tóc gáy.

Nhựa nylon cũng còn được tận dụng trong việc chế tác những vật dụng giải trí như đổ quân cờ domino và cờ tướng. Trong phòng tôi có một cao thủ cờ tướng, cựu đại úy không quân “ngụy”, chuyên đánh “cờ mù”.

Anh chỉ nằm vắt tay lên trán trong khi những tù khác quây quần quanh bàn cờ, “bề-hội-đồng” mà vẫn không sao thắng nổi kẻ nằm thảnh thơi không nhìn bàn cờ! Có lẽ đó là kỷ niệm “vui” nhất trong suốt thời gian 9 tháng nằm khám Chí Hòa.

Kỷ niệm buồn nhất là căn bệnh ghẻ phổ biến ở đây. Thoạt đầu ghẻ chỉ xuất hiện một cách âm thầm và nhẹ nhàng. Khởi đầu thấy ngứa giữa những kẽ tay, sau đó hình thành những mụn nước, rồi mụn mủ sưng tấy và ngứa ngáy khắp thân thể, nhất là vào ban đêm.

Vi trùng ghẻ, còn được gọi là “cái ghẻ”, lây từ người này sang người khác trong điều kiện tắm giặt hạn chế và vệ sinh thiếu thốn. Phòng tù lúc nào cũng có mùi tanh tanh khó chịu. Tuy nhiên, gãi ghẻ cũng có cái “thú-đau-thương” của nó mà tôi nghĩ đó là một “bản đàn”.

Khởi đầu là “bản đàn” du dương, rần rần vì… “gãi-đúng-chỗ-ngứa”. Khi cơn sướng đạt đỉnh điểm, ngón đàn mang lại sự đau đớn, tê rát lúc mụn ghẻ tóe máu. Sự nhức nhối biến thành một cực hình, nhất là vào ban đêm. Đó là thời gian lý tưởng nhất để những con cái ghẻ đục khoét dưới da và mò sâu vào thịt.

Cứ như thế tôi và những người “đồng hội đồng thuyền” sống chung với ghẻ đúng 9 tháng, tương đương với 3 lệnh tạm giam, mà không hề trải qua một cuộc “chấp pháp” tức thẩm vấn điều tra. Nghĩ cũng lạ: Mất tiền để vào tù!

Tất cả chúng tôi đều khai trong lần làm thủ tục vào Chí Hòa là ra đi “bán-chính-thức” sau khi đã đóng “nghĩa vụ” với nhà nước. Đó là lần “làm việc” duy nhất trong suốt 9 tháng.

Mà chắc các cán bộ cũng chẳng có gì cần khai thác trong đám khách vượt biên. Nghe đâu chỉ những người đứng ra tổ chức mới được “chiếu cố”, thỉnh thoảng vẫn phải lên làm việc với cán bộ điều tra.

Khám Chí Hòa nhìn từ trên cao

Ngày ra khỏi lò bát quái, những người đi cùng chuyến tàu được tập họp điểm danh rồi được dẫn ra đến cửa khám, hoàn toàn không một mảnh giấy lận lưng. Cái duyên “đáo” Chí Hòa của tôi là thế đó. Dù sao cũng phải tự hào “ké” với giới giang hồ:

“Bất đáo Chí Hòa phi hảo hán”!

.

Posted by: Trinh Huynh

Tóm tắt lịch sử giết người của đảng Cộng sản Trung Quốc

Tuyết Mai 


Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thành lập năm 1921, giành được chính quyền năm 1949. Theo thống kê, có khoảng 80 triệu người Trung Quốc đã bị chết bất thường (bức hại, đói khổ, hành quyết…) dưới thời cai trị của ĐCSTQ. Con số này nhiều hơn số người chết trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Hãy cùng điểm lại hành trình giết và giết của ĐCSTQ…

Thảm sát Đoàn AB

Đoàn AB là một tổ chức thuộc Quốc dân đảng được thành lập tại Giang Tây vào tháng 12/1926, mục đích nhằm chống lại ĐCSTQ đã chiếm quyền lực của Quốc dân đảng tại Giang Tây.
Tháng 4/1927 Đoàn AB tan vỡ. Nửa sau năm 1930, ĐCSTQ phát động phong trào chống Đoàn AB và đã giết hại vô số người từng làm việc cho tổ chức này.

Năm 1953, tại Phụ Khang – Tân Cương, quân sĩ của ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” (National Archives).
Tháng 12/1930, Quân đoàn 20 Hồng quân Công nông Trung Quốc phát động binh biến tại Phú Điền – Giang Tây, chiếm thị trấn Phú Điền và thả tất cả người bị bắt, bắt nhân viên chính phủ bản địa của ĐCSTQ. Ngày 28/3, lãnh đạo tối cao ĐCSTQ Vương Minh (Wang Ming) cử Bật Nhậm Thời phụ trách khu Xô-Viết trung ương, tuyên bố biến cố Phú Điền là “bạo động chống cách mạng”. Ngày 18/4, lãnh đạo binh biến của Quân đoàn 20 bị bắt trong lúc đi tham gia đàm phán, sau đó bị hành quyết. Tháng Bảy cùng năm, Quân đoàn 20 bị điều đến trại Bình Đầu Giang Tây và bị quân của Bành Đức Hoài cùng Lâm Bưu bao vây tước vũ khí, hơn 700 quân bị đưa đi hành quyết.
Sau biến cố Phú Điền, phong trào tấn công Đoàn AB nổi lên cao trào mới, mức tàn khốc khác thường, “trói tay treo người lên tra tấn, kẻ nào ngoan cố còn bị dùng dầu lửa thiêu thân, thậm chí dùng đinh đóng tay vào bàn gỗ và dùng nạt tre đâm vào trong móng tay”. Chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người tại khu Xô-Viết Giang Tây đều sống trong tình trạng nguy hiểm tính mạng, trong nhiều cơ quan của ĐCSTQ tại khu vực có đến 80 – 90% người trở thành “phần tử AB”, tổng cộng hơn 70.000 người đã bị giết.
Ông Mao Trạch Đông là người trực tiếp phụ trách trấn áp. Sau này ĐCSTQ thừa nhận, đa số những người hành quyết đều là người vô tội.

Chỉnh đốn Diên An

Từ đầu năm 1942 đến tháng 4/1945 nổ ra phong trào chỉnh đốn tại Diên An, đây cũng là phong trào quy mô lớn đầu tiên do đích thân ông Mao Trạch Đông lãnh đạo, phong trào khủng bố đẫm máu này đã đưa Mao lên địa vị quyền lực tột đỉnh trong Đảng.
Nhà văn Vương Thực Vị (Wang Shiwei) là phần tử trí thức đầu tiên bị giết hại trong chỉnh đốn Diên An.
Trong phong trào chỉnh đốn Diên An đã giết hại hơn 1.000 người. Người bị hại nổi tiếng nhất là trí thức Vương Thực Vị. Ông Vương Thực Vị đến Diên An vào tháng 10/1937, làm việc tại phòng biên dịch học viện Marx, đã dịch tổng cộng hơn hai triệu chữ trong bộ tác phẩm kinh điển của Marx. Từ tháng 2/1942, học giả Vương Thực Vị đã viết bài cho các tạp chí Cốc Vũ, Nhật báo Giải phóng, và tạp chí của Viện Nghiên cứu Trung ương, tố cáo khoảng tối trong “cuộc sống mới” tại Diên An, đặt vấn đề chế độ đẳng cấp và xu thế quan liêu hóa của ĐCSTQ. Những bài viết đã khiêu chiến với quan điểm của Mao, và bị liệt vào phần tử chống cách mạng, đặc vụ ngầm của Quốc dân đảng.
Ngày 1/4/1943, Khang Sinh ra lệnh bắt Vương Thực Vị. Tháng 6/1947, máy bay của quân Quốc dân đảng đã phá hủy trại giam Vương Thực Vị. Bộ trưởng Công an ĐCSTQ Khang Sinh và Thứ trưởng Lý Khắc Nông chỉ đạo cho hành quyết bí mật Vương Thực Vị. Ngày 1/7/1947 tại huyện Hưng – Sơn Tây, học giả Vương Thực Vị bị đưa đi chém tại một khu hẻo lánh ven sông Hoàng Hà, thi thể bị quăng xuống sông.
Hiện nay chưa từng có công bố số liệu phong trào chỉnh đốn Diên An giết chết bao nhiêu người.

Vây khốn thành Trường Xuân

Ngày 13/3/1948, liên quân dân chủ Đông Bắc chiếm Tứ Bình, và Trường Xuân trở thành một ốc đảo bị quân của ĐCSTQ bao vây. Ngày 7/6/1948, ông Mao Trạch Đông chính thức cho phép dùng phương án bao vây cắt đường lương thực tại Trường Xuân. Khẩu hiệu được đề ra: “Không cho kẻ thù tiếp viện lương thực, cho quân tướng Trường Xuân bị chết đói trong thành”.
Ban đầu Quốc dân đảng không cho phép người dân rời khỏi thành Trường Xuân, nhưng vì số lương thực trong thành chỉ còn dùng đủ đến cuối tháng Bảy, vì thế sau đó ông Tưởng Giới Thạch chấp nhận yêu cầu từ ngày 1/8 cho sơ tán dân chúng. Nhưng ĐCSTQ thực hiện biện pháp “giới nghiêm không cho dân chúng ra khỏi thành”. Sau ba tháng bao vây, ngày 9/9 Lâm Bưu cùng La Vinh Hoàn, Lưu Á Lâu, Đàm Chính cùng nhau báo cáo với Mao: “Bao vây đã thu được thành quả, trong thành đang thiếu lương thực nghiêm trọng… nhiều người dân phải ăn lá cây, cỏ xanh lót dạ, nhiều người chết đói”.
 
Học giả Homare Endo lúc 5 tuổi, bà may mắn sống sót trong đợt vây khốn Trường Xuân, năm 1953 bà theo người thân trở về Nhật Bản, hiện là giáo sư danh dự Đại học Tsukuba. Cả đời bà chưa thoát khỏi ám ảnh kiếp sống đói khát trong thời gian bị vây khốn tại Trường Xuân.
Ông Đoàn Khắc Văn (Duan Kewen), cựu lãnh đạo tỉnh Cát Lâm từng viết trong hồi ký tả cảnh một người lính của ĐCSTQ trông thấy nạn dân tiến lại gần đã quát: “Đồng hương, không được tiến lên, các người còn tiến lên chúng tôi sẽ nổ súng”. Nạn dân khẩn cầu: “Chúng tôi toàn người dân lương thiện, sao có thể nhẫn tâm ép chúng tôi chết đói tại đây?” Người lính kia đáp: “Đây là lệnh của Mao chủ tịch, chúng tôi không dám chống lệnh”. Một người liều mạng lao về trước, một tiếng súng “bằng” vang lên…
Ngày 24/10/1948, Nhật báo Trung ương Nam Kinh viết trong bài «Quá trình phòng thủ Trường Xuân» : “Theo tính toán thấp nhất, từ cuối tháng 6 – đầu tháng 10, tổng số hài cốt không dưới 150.000”. Con số người chết đói do phía chính quyền ĐCSTQ thừa nhận là 120.000 người, trong cuối hồi ký của Thị trưởng kiêm Giám đốc sở Dân chính Thượng Truyền Đạo (Shang Chuandao) cũng nhắc đến số liệu này.
Chính phủ Quốc dân đảng từng nhận định hành động bao vây Trường Xuân của ĐCSTQ đủ cấu thành tội ác chiến tranh.

Cải cách ruộng đất và đàn áp “phản cách mạng”

Tháng 3/1950, ĐCSTQ phát động «Chỉ thị trấn áp phần tử phản cách mạng», Mao Trạch Đông tuyên bố trong một văn bản “nhiều nơi sợ sệt không dám giương ngọn cờ giết bọn phản cách mạng”. Mao chỉ thị “giết phần tử phản cách mạng, ở nông thôn cần vượt qua tỉ lệ một phần ngàn dân số… ở thành thị nên ít hơn một phần ngàn”.
Một phần ngàn ở đây chính là chỉ tiêu giết người, nhưng trên thực tế số người bị giết hại cao hơn nhiều. Theo thống kê của ĐCSTQ, số phần tử “phản cách mạng” bị giết, cải tạo lao động hoặc quản chế vào khoảng 30 triệu người.
Theo tài liệu «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ sau khi kiến quốc» do Phòng nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương Trung Quốc biên soạn, trong kế hoạch đàn áp “phản cách mạng” từ đầu năm 1949 đến tháng 2/1952, số người bị đàn áp khoảng 15,8 triệu người, trong đó có khoảng 873.600 người bị tử hình.
Cùng với phong trào trấn áp “phản cách mạng” sôi sục là phong trào “cải cách ruộng đất”. Thực tế phong trào này tương tự như lý tưởng “có ruộng cùng cày” thời Thái Bình Thiên Quốc. Mục đích thực tế là mượn cớ giết người.
Thời cải cách ruộng đất thường tổ chức hội đấu tranh, lôi địa chủ và phú nông ra luận tội. Những kẻ luận tội là Đảng viên ĐCSTQ hoặc phần tử tích cực với Đảng, việc hành quyết thực thi khi kẻ đứng đầu hô to “nên giết!”
Mục đích của phong trào trấn áp phần tử “phản cách mạng” để củng cố chính quyền mới. Trong hình là các “địa chủ” bị thanh trừng vào năm 1951 (National Archives).
Quân lính ĐCSTQ hành quyết “địa chủ” và “phần tử phản cách mạng” tại Phụ Khang – Tân Cương năm 1953 (National Archives)
Theo công bố của ĐCSTQ, đến cuối năm 1952, số “phần tử phản cách mạng” bị tiêu diệt là hơn 2,4 triệu người, thực tế tổng số quan chức Quốc dân đảng, nhà giáo và địa chủ bị bức hại lên đến hơn 5 triệu người.

Tam phản” và “ngũ phản”

Từ năm 1951 – 10/1952, ĐCSTQ triển khai phong trào “Tam phản” và “Ngũ phản”. “Tam phản” là phong trào “chống tham ô lãng phí” trong doanh nghiệp và cơ quan nhà nước, “chống chủ nghĩa quan liêu”; “Ngũ phản” là phong trào “chống hối lộ, trốn thuế” đối với giới doanh nghiệp tư nhân, “chống ăn cắp tài sản quốc gia”“chống đánh cắp thông tin tình báo kinh tế quốc gia”.
Phong trào “Tam phản” để xử lý cán bộ ĐCSTQ hủ bại, nhưng rồi ĐCSTQ cho rằng cán bộ biến chất là do bị nhà tư bản dụ dỗ, hệ quả là sau đó đã thực hiện “Ngũ phản”. Thực tế “Ngũ phản” chính là cướp tiền của nhà tư bản, là giết người cướp của. Trong mục «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Cửu bình» có ghi: “Buổi tối mỗi ngày thị trưởng thành phố Thượng Hải ngồi trên ghế xô-pha bưng ly trà nghe báo cáo, hỏi câu hờ hững: Hôm nay có bao nhiêu lính nhảy dù?” Thực tế ý câu này là hỏi có bao nhiêu thương nhân nhảy lầu.
Theo số liệu trong «Phong trào chính trị trong lịch sử ĐCSTQ từ khi kiến quốc» xuất bản năm 1966, có hơn 323.000 người bị bắt trong phong trào “Tam phản Ngũ phản”, hơn 280 người tự sát hoặc mất tích; có hơn 5.000 người bị liên lụy và hơn 500 người bị bắt trong “phong trào chống Hồ Phong”, hơn 60 người tự sát, 12 người chết bất thường; sau đó trong phong trào “dẹp phản động” có khoảng 21.300 người bị phán tội tử hình, hơn 4.300 người tự sát và mất tích.
Phóng viên Nicholas Kristof của New York Times trú tại Bắc Kinh viết trong «Trung Quốc thức tỉnh» (China Wakes): “Theo báo cáo của cựu Bộ trưởng Công an La Thụy Khanh, từ 1948 – 1955 có bốn triệu người bị hành quyết”.

Thảm họa “Đại nhảy vọt”

Nhiều triệu người Trung Quốc đã chết bất thường trong thảm họa mất mùa vào cuối thập niên 50 – đầu 60 thế kỷ 20. Trong hình là cảnh người cha chôn người con bị chết đói.
Từ 1958 – 1962, Mao Trạch Đông thực hiện kế hoạch “Đại nhảy vọt”, cưỡng chế tập thể hóa nông nghiệp và chế độ nhà ăn tập thể đã làm số người chết đói la liệt khắp nơi. Theo con số do Cục trưởng Cục Thống kê Quốc gia Tiết Mộ Kiều (Xue Muqiao) đưa ra, số lương thực bị hao hụt do những nhà ăn tập thể khổng lồ này gây ra năm 1958 là 17,5 triệu tấn. Thực tế vụ mùa năm đó không phải quá tệ, nhưng chỉ sau nửa năm đã xảy ra nạn đói.
Hồ sơ giải mật của ĐCSTQ trong vài năm gần đây đã chính thức thừa nhận có 37,56 triệu người chết đói trong “Đại nhảy vọt”. Số liệu được giới học thuật trong và ngoài Trung Quốc thừa nhận là vào khoảng 37 – 43 triệu người chết đói. Chỉ riêng vùng Tín Dương tỉnh Hà Nam đã chết một triệu người, xảy ra hiện tượng người ăn thịt người, lịch sử gọi là “sự kiện Tín Dương”.
Mùa đông năm 1959 – mùa xuân 1960 là thời đỉnh cao của nạn người chết đói, nhưng năm 1959, ĐCSTQ lại xuất khẩu 4,15 triệu tấn lương thực. Số lương thực này nếu chia cho 30 triệu người thì mỗi được có được 138,6 cân, sẽ không ai bị chết đói. Năm 1960, ĐCSTQ còn xuất khẩu 2,7 triệu tấn lương thực.

Giết người điên cuồng trong  “Cách mạng Văn hóa”

Sau “Cách mạng Văn hóa”, tướng Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) từng nói: “Cách mạng Văn hóa” đã chỉnh đốn 100 triệu người, giết chết 20 triệu người. Theo tính toán của giáo sư R.J. Rummel thuộc Đại học Hawaii (Mỹ) trong tác phẩm «Thế kỷ sắt máu Trung Quốc» (China’s Bloody Century) xuất bản năm 1991, có khoảng 7,73 triệu người chết trong “Cách mạng Văn hóa”.
Trong sách «Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi xây dựng chính quyền» viết: Tháng 5/1984 ĐCSTQ thực hiện cuộc điều tra toàn diện kéo dài 2 năm 7 tháng và đưa ra con số thống kê mới về “Cách mạng Văn hóa”: 17,28 triệu người chết bất thường; 135.000 người bị hành quyết vì tội chống cách mạng; trong “Võ đấu” (1966 – 1969) giết chết 237.000 người, 70.300 người bị thương tật.
Làn sóng giết người đầu tiên vào năm 1966. Tháng Sáu năm đó, dưới chỉ thị “Quét sạch quỷ trâu thần rắn”, làn sóng càn quét của Hồng vệ binh từ Bắc Kinh nhanh chóng mở rộng trên toàn quốc nhằm tra khảo và giết “quỷ trâu thần rắn”.
Tháng 8/1966, Hồng vệ binh Bắc Kinh đã giết chết 1.772 người. Học giả Đinh Trữ (Ding Shu) bình luận: “Tại Trung Quốc đại lục chưa bao giờ có số người chết nhiều trong một thời gian ngắn như thế, chết vì những dụng cụ tra tấn kiểu cổ đại như côn và dây da. Những người bị giết bởi những kẻ mà họ không có thù oán gì, học sinh trung học mười mấy tuổi mang thầy hiệu trưởng, người hàng xóm ra tra tấn đến chết…”.
Trong sách «Tháng Tám khủng bố đỏ», học giả Vương Hữu Cầm (Wang Youqin) viết: “Nửa sau tháng 8/1966, hàng loạt người bị tra tấn chết không rõ danh tính cùng bị chất thành đống tiêu hủy. Hiệu trưởng Cao Vân (Gao Yun) và Bí thư Đỗ Quang (Du Guang) thuộc Đại học Sư phạm Bắc Kinh đều cùng bị đánh bất tỉnh và mang đi hỏa thiêu. Người làm việc tại nơi hỏa thiêu phát hiện họ chưa chết nên không thiêu. Họ lại trở về nhà. Vô số thi thể chất thành đống không thiêu kịp phải ướp băng, máu và nước trộn lẫn vào nhau”.
Ngày 26/1/1967 xảy ra sự kiện Thạch Hà Tử tại Tân Cương gióng phát súng đầu tiên trong đợt võ đấu trên toàn quốc mở ra làn sóng giết người thứ hai. Từ tháng 8/1967, đã nổ ra màn võ đấu quy mô lớn tại các địa bàn Thượng Hải, Nam Kinh, Trịnh Châu, Trường Xuân, Thẩm Dương, Trùng Khánh và Trường Sa, đến cuối năm 1968 mới tạm lắng xuống. Quân đội Vân Nam bao vây một tổ chức quần chúng có tên “đội Điền Tây” và dùng súng máy quét, sau 20 phút hàng ngàn người của tổ chức này thiệt mạng. Dự tính số người chết trong “võ đấu” khoảng 300.000 – 500.000 người.
«Phong trào chính trị của ĐCSTQ từ khi kiến quốc» ghi lại có khoảng 237.000 người chết trong đợt võ đấu. Thực tế dự tính số người chết trong võ đấu khoảng 300.000 – 500.000 người.
Đợt “thanh trừng giai cấp” 1968 – 1969 là cao trào càn quét “quỷ trâu thần rắn” của Chủ tịch Mao Trạch Đông, cũng là thời kỳ có số người chết nhiều nhất trong “Cách mạng Văn hóa”. Theo tư liệu, trong hơn 2.000 huyện trên toàn quốc, bình quân mỗi huyện khoảng 100 người bị hành quyết.
Ngoài những người bị giết hại tàn nhẫn, thời đầu “Cách mạng Văn hóa” có khoảng 100.000 – 200.000 người vì không cam chịu bị làm nhục nên tự sát, con số người tự sát này hiếm thấy trong lịch sử thế giới. Nhà văn Ba Kim nhớ lại:
Mọi người đều sống như người điên, trông thấy một người nhảy từ trên lầu xuống cũng không chút cảm xúc mà trái lại còn phê bình, dùng những lời lẽ độc địa chửi người tự sát. Mao Trạch Đông từng nói với bác sĩ Lý Chí Tuy: “Tôi vui vì thấy thiên hạ đại loạn”.
Ngoài ra còn vô số người dũng cảm lên tiếng phê phán mà bị hại thân, bị bắn chết hoặc chết oan trong tù. Ông Thái Thiết Căn, Trưởng ban huấn luyện Học viện Quân sự cao cấp Nam Kinh bị phát hiện có ghi trong nhật ký những lời bất bình đối với tướng Bành Đức Hoài, thế là lập tức bị bắt. Ngày 11/3/1970, quân lính nhà tù đến mang ông trói lại rồi đọc lệnh bắt, sau đó đọc luôn lệnh hành hình mà không cho khiếu kiện. Giáo sư Hồng Ân (Hong En), chỉ huy đoàn nhạc giao hưởng Thượng Hải vì viết xấu về ông Mao Trạch Đông trong «Mao chủ tịch ngữ lục» cũng bị xử tử hình, trước khi đưa ra pháp trường cổ họng còn bị cắt đứt.

Thảm sát Thiên An Môn

Ngày 4/6/1989, ĐCSTQ đã đàn áp đẫm máu phong trào sinh viên đòi dân chủ kéo dài hơn 50 ngày gây chấn động thế giới. Đến nay, phong trào Thiên An Môn vẫn là một đề tài cấm kỵ của ĐCSTQ. Con số người thiệt mạng trong sự kiện này không được chính quyền Trung Quốc công bố, con số dự tính của các giới đưa ra không thống nhất.
Chiều ngày 3/6/1989, ĐCSTQ quyết định trấn áp, tuyên bố “bộ đội giới nghiêm có quyền dùng các biện pháp tự vệ”. Tối hôm đó, Giải phóng quân từ vùng ngoại thành tiến vào Bắc Kinh.

Sinh viên đưa bạn đi cấp cứu vì bị bộ đội bắn giết vào sáng ngày 4/6/1989.

Sau 10 giờ tối khi quân đội đột nhập vào Bắc Kinh đã bắt đầu bắt giết dân chúng, ban đầu các sinh viên tưởng quân đội chỉ dùng súng bắn đạn cao su và hơi cay, không ngờ quân đội lại dùng đạn thật.
Vương Quân Đào (Wang Juntao), người tổ chức phong trào sinh viên nói: “Tối ngày 3/6 tôi phát hiện có người dùng bạo lực đối với người dân rồi bỏ chạy, khi đến hiện trường tôi cảm giác có âm mưu gì đó, muốn điều tra, nhưng thấy mọi người dân bắt đầu nổi giận và dùng gạch đá ném vào quân lính, thế là quân lính bắt đầu nổ súng từ đường ngoại ô phía tây Bắc Kinh. Họ đi đến đâu thì bắn đến đó, vô số người trúng đạn thiệt mạng…”
Vương Hữu Tài (Wang Youcai), một trong những người tổ chức phong trào nói: “Từ quan sát của cá nhân tôi, khi đó có nhóm sinh viên Đại học Bắc Kinh đã đi các bệnh viện điều tra, được biết khoảng hơn hai ngàn người thiệt mạng. Dĩ nhiên tôi không có khả năng chứng minh điều này, vì khi đó tôi đang bị bắt giam”.
Nhà văn Tào Trường Thanh (Cao Changqing) viết: “Trong «Trung Quốc thức tỉnh» có đề cập số người chết trong sự kiện đàn áp tại Thiên An Môn do một số bác sĩ cung cấp thông tin, theo đó số người chết khoảng 400 – 800, hàng ngàn người bị thương. Cho dù chỉ 400 người cũng vượt quá tổng số học sinh sinh viên kháng nghị bị chính quyền Trung Quốc giết chết trong cả thế kỷ 19. Sách cũng dẫn số liệu của Chính phủ Mỹ với khoảng 3.000 người bị thiệt mạng trong sự kiện này”.

Bức hại Pháp Luân Công

Tháng 7/1999, ĐCSTQ phát động đàn áp những người tập Pháp Luân Công, khởi đầu giai đoạn bức hại nhân quyền kéo dài gần 18 năm. Ông Giang Trạch Dân lợi dụng cỗ máy quyền lực nhà nước thực hiện chính sách tận diệt những người theo Pháp Luân Công.
Theo thống kê chưa hoàn chỉnh của trang mạng Minh Huệ của Pháp Luân Công cho đến ngày 17/2/2017, khoảng 4.075 người tập Pháp Luân Công bị hại chết, còn số người bị mổ cướp nội tạng còn ghê rợn hơn. Ngoài ra, còn có hàng triệu người bị bắt bớ, bị cưỡng bức lao động phi pháp. Trang Minh Huệ cũng nhận định, vì tình hình bức hại bị che giấu nên con số người bị hại thực tế còn khủng khiếp hơn nhiều.
Những người theo tập Pháp Luân Công bị hành hạ đến chết trong các trại giam, trại cưỡng bức lao động, nhà tù, các trung tâm tẩy não và bệnh viện tâm thần. Họ bị đủ hình thức tra tấn như bị đánh, điện giật, tiêm thuốc độc, cố định ghế hổ, hãm hiếp… khiến vô số người bị thương tật. Rất nhiều vụ thảm án đã lan truyền ra nước ngoài phơi bày tội ác của ĐCSTQ.
Ngày 23/6/2000, Washington Post đưa tin vụ thảm án của kỹ sư máy tính Trung Quốc đại lục Tô Cương (Su Gang, 32 tuổi) vì theo tập Pháp Luân Công. Ngày 25/4/2000, Tô Cương bị bắt vì đi Bắc Kinh khiếu kiện; ngày 23/5 Tô Cương bị ép vào bệnh viện tâm thần. Ông Tô Đức An, cha của Tô Cương nói, mỗi ngày hai lần họ tiêm cho Tô Cương thứ thuốc gì đó không rõ, sau một tuần thì Tô Cương không thể ăn uống và đi lại bình thường. Ngày 10/6, Tô Cương chết vì suy tim.  
 
Anh Trần Tương Duệ tại tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công 
Anh Trần Tương Duệ (Chen Xiangrui, 29 tuổi) người tỉnh Hồ Nam bị đánh chết vì theo Pháp Luân Công. Ngày 11/3/2003, công an thành phố Hành Dương đã bắt anh Trần Tương Duệ về đồn và tra tấn điện, dùi cui sắt, gậy cao su, trong tình trạng lục phủ ngũ tạng thương tổn nghiêm trọng, Trần Tương Duệ qua đời vào sáng hôm sau.
Tháng 3/2006, nhân chứng Anne đã tiết lộ câu chuyện về tội ác mổ cướp nội tạng những người theo Pháp Luân Công trước giới truyền thông nước ngoài.  Sau đó, luật sư nhân quyền David Matas nổi tiếng quốc tế và cựu ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã được mời để tiến hành một cuộc điều tra độc lập. Tháng 7/2006 họ công bố báo cáo điều tra gồm 53 bằng chứng về tội ác mổ cướp nội tạng và khẳng định “đây là tội ác chưa từng có trên hành tinh này”.
Tối 30/10/2016, luật sư nhân quyền nổi tiếng David Matas và cựu Ngoại trưởng Canada phụ trách vấn đề Châu Á-Thái Bình Dương David Kilgour đã tổ chức họp báo công bố chứng cứ mới về tội ác mổ cướp nội tạng của ĐCSTQ.
Tổ chức Thế giới Điều tra đàn áp Pháp Luân Công” đã thực hiện điều tra hơn 10 năm và thu được nhiều chứng cứ (tài liệu và ghi âm) chứng minh: Ông Giang Trạch Dân đã dùng toàn bộ cỗ máy nhà nước kết hợp với thế lực xã hội đen tạo thành mạng lưới giết người cướp nội tạng kiếm lợi nhuận rộng khắp. Theo phân tích của tổ chức này, vì nhiều người sau khi bị giết đã bị thiêu hủy thi thể nên rất khó biết chính xác số người bị giết lấy nội tạng mang bán là bao nhiêu.
Tuyết Mai 
Tài liệu tham khảo:
  1. «Lịch sử giết người của ĐCSTQ» trong «Chín bình luận về ĐCSTQ», Epochtimes xuất bản tháng 12/2004.
  2. «Năm 60 Trung Quốc đẫm máu: Ghi chép về tội ác giết người của ĐCSTQ» Tùng Lãm Trung Quốc (Chinainperspective) xuất bản tháng 9/2009.
  3. Lãnh Đào: «Mao Trạch Đông: Lông vũ cuối cùng của ‘hệ thống thăng bằng’ ĐCSTQ», Đài Phát thanh Quốc tế Hy Vọng ngày 17/1/2017.
  4. Đường Ngọc Vi (Tang Qiwei): «Kể bạn nghe về chân tướng sự kiện Thiên An Môn 1989», Đài Á châu Tự do ngày 3/6/2009.
  5. Xuyên Nhân (Chuan Ren) «Sự thật lịch sử về cuộc chiến bao vây Trường Xuân», Nhìn Trung Quốc, ngày 1/4/2012.
  6. Trương Chính Long (Zhang Zhenglong): «Tuyết trắng máu đỏ», Nhà xuất bản Thiên Địa Đồ Thư (Hồng Kông), năm 2002.
  7. Diệp Quan Tinh (Ye Guanqing): «Từ ba năm Đại nhảy vọt nhìn bộ mặt ma quỷ của ĐCSTQ», Epochtimes ngày 11/1/2016.

Những oan hồn của cuộc chiến

Lính Mỹ truy bắt Việt Cộng tại Đà Nẵng, tháng Tư 1965.

Bộ phim Chiến tranh Việt Nam của các đạo diễn Hoa Kỳ gây nên nhiều tranh luận, ý kiến khác nhau của người Việt trong và ngoài nước.
Đó là điều tất yếu vì cuộc chiến tranh kéo dài gần 30 năm, liên quan đến nhiều nước, với những động cơ khác nhau, không thể làm thỏa mãn mọi người.
Đây là một dịp bổ ích và lý thú để công luận có thể được dịp phát biểu thêm, soi tỏ thêm nhiều điều mới mẻ, những góc tối của cuộc chiến, từ đó có thể bổ xung cho nhau nhiều hiểu biết mới để soi tỏ thêm quá khứ, hiện tại và tương lai của các bên tham chiến trong mối quan hệ quốc tế phức tạp hiện nay.
Một số nhà báo, làm phim truyền hình người Việt, người Pháp, Hoa Kỳ, Đức… phỏng vấn tôi nhân dịp này. Tôi đã phát biểu ý kiến của mình.
Với tư cách là một nhân chứng sống, từng tham dự cuộc chiến từ ngày đầu đến ngày cuối, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, ở chiến trường Cam-bốt cũng như ở Lào, tôi có nhiều suy nghĩ, kỷ niệm về cuộc chiến tranh, nay có dịp để nói lên những điều quan trọng bị khỏa lấp mà bộ phim hoành tráng của các nhà làm phim Hoa Kỳ không đề cập đến.
Nhiều bạn hỏi tôi, nếu tôi tham gia một bộ phim khác về Chiến tranh Việt Nam, tôi sẽ nói lên những điều gì? Tôi có khá nhiều điều cần phát biểu về cuộc chiến, khi tưởng nhớ, ngẫm nghĩ lại về cuộc chiến. Qua bài báo này trước hết, tôi muốn nói đến những oan hồn của cuộc chiến.
Tôi có một số người thân, ông chú, các anh chị em họ Bùi vốn là đảng viên Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng đã bị Việt Minh chụp mũ cho là Việt gian, bị bắt giam sau Cách mạng tháng Tám. Tiêu biểu là ông Bùi Nhữ Uyên chú ruột tôi từng theo cụ Nguyễn Thượng Hiền, người cùng làng sang Nhật Bản vận động cho phong trào Đông Du và sau đó về Trung Quốc, tham gia Việt Nam Quang Phục hội của Cụ Phan Bội Châu. Chú tôi bị bắt năm 1946, bố tôi (Bùi Bằng Đoàn) lúc đó là trong Ban Thường trực Quốc hội can thiệp với ông Hồ chí Minh, ông Hồ lệnh cho chính quyền tỉnh Hà Đông thả ngay chú tôi, nhưng đúng vào đêm lệnh thả đến nhà giam ở Vân đình thì chú tôi mất vì «đau bụng» khẩn cấp. Bạn tù cùng giam cho rằng chú tôi bị trại giam đầu độc.
Những oan hồn tôi không thể quên. Việt Minh từ hồi đó coi tất cả các đảng yêu nước chống Pháp là Việt gian, như Quốc Dân đảng, Đại Việt, Việt Nam Quang Phục hội, Việt Nam Cách mạng đồng minh, đệ tứ (Trostkyt)… Họ phê phán rất mạnh cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, coi là sai lầm thân Tàu, chuộng Pháp.
Tôi còn nhớ trước năm 1940 1941 số đảng viên Quốc dân đảng rất đông, vượt con số đảng viên đảng CS Đông dương ở các nhà giam, ở Côn Đảo. Rất nhiều giáo viên tiểu học các xã, huyện, trí thức nông thôn tham gia phong trào Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học. Rất nhiều trung nông, phú nông, cả địa chủ nhỏ có học tham gia đảng này, về sau bị Cải cách ruộng đất kiểu Mao vu cáo là địa chủ ác bá, là việt gian, bị sát hại gần hết, theo thống kê khi sửa sai con số oan hồn này lên đến hơn 15.000.
Ngoài số nói trên cần kể đến oan hồn của các nhà yêu nước Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm – lãnh đạo nhóm Troskyt, tướng Nguyễn Bình và nhà sử học Trần Huy Liệu – nguyên là đảng viên Quốc dân đảng, cụ Đặng Văn Hướng – nguyên Bộ trưởng không bộ do ông Hồ phong chức và cụ Nguyễn Khắc Niêm, thân sinh ông Nguyễn Khắc Viện, chủ tịch Hội Việt kiều yêu nước ở Pháp – 2 cụ đều bị tàn sát trong Cải cách ruộng đất.
Cũng cần ghi thêm trong danh sách các oan hồn những cán bộ cộng sản có ít nhiều thức tỉnh đã bị thải loại, ra rìa, như tướng Đặng Kim Giang, tướng Nguyễn Vịnh, các đại tá Đỗ Đức Kiên, Lê Trọng Nghĩa, Lê Minh Nghĩa, Hoàng Minh Chính… trong vụ án «xét lại», Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán… trong vụ Nhân văn Giai phẩm, Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Hộ, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Nguyên Giáp… từng có tư duy độc lập chống lại một số chủ trương chính sách của đảng.
Các đồng đội của tôi vào Nam chiến đấu theo lời nguyện «sinh Bắc tử Nam để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc», chết vài chục vạn, hơn 300.000 tử sĩ hiện chưa tìm ra thi hài mộ chí, cũng là những oan hồn, nỗi đau lòng uất hận của hàng vài triệu bố mẹ, anh chị em ruột thịt. Đó là những oan hồn vì khi chiến đấu, tự nguyện hy sinh, các đồng đội của tôi đều mang theo hy vọng rồi gia đình mình, bố mẹ anh chị em mình, đồng bào mình sẽ được hưởng độc lập tự do, an bình, phồn vinh hạnh phúc. Những hy vọng thiêng liêng ấy đến nay vẫn còn xa vời. Ngược lại đất nước còn bị ách Bắc thuộc từ sau mật đàm Thành Đô năm 1990, tự do tư tưởng, ngôn luận còn bị cấm đoán, trừng phạt, an ninh của nhân dân, nông dân, trí thức, nhà kinh doanh tự do bị đe dọa, các chiến sỹ yêu nước, đòi tự do cho nhân dân bị tù đầy, chênh lệch giàu nghèo tồi tệ hơn thời phong kiến, thực dân, đảng cộng sản biến thành lực lượng kìm hãm đà tiến bộ, phát triển của đất nước, mắc nợ hàng triệu oan hồn đã hy sinh do những lời đường mật giả dối.
Tôi có nhiều anh em, cháu, – con các bà chị ruột và chị họ vào Nam chiến đấu và hy sinh ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, Bình Định nay vẫn chưa tìm ra thi hài, mộ chí. Đã đến lúc phải nói thẳng ra là gia đình và các cháu đã bị lừa. Họ đưa ra Luật nghĩa vụ quân sự, tuyên truyền về vinh quang trai thời loạn là sinh Bắc tử Nam, cưỡng bức các cháu bỏ học cầm súng, bắt ký các bản tình nguyện nhập ngũ, buộc bố mẹ phải ký tên «vinh dự hiến con cho Tổ quốc», trong khi con cháu các quan lớn hầu hết đều được xuất ngoại học tập ở Liên Xô, Trung Quốc , Ba lan, Đông Đức, Tiệp… Một sự bất công khổng lồ. Bố mẹ các cháu tôi lo nghĩ tiếc thương con, ban đêm xụt xùi khóc, nhưng vẫn phải tỏ ra vui vẻ khi tiễn con vào Nam. Các cháu đều miễn cưỡng ký giấy «tình nguyện vào Nam chiến đấu, đâu cần xin có mặt» theo ý nguyện (cưỡng bức) của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Cả một khoa học bịp bợm thành hệ thống.
Tôi đã từng nhiều lần vào Nam cùng các đơn vị, vào Bình Trị Thiên, rồi vào Tây Nguyên – Kon Tum, Gia Lai, vào Bình Định, Buôn Ma Thuột, Bình Long, Sài Gòn… có những điều ít ai biết, đó là tình trạng cực kỳ phi lý, thương tâm, oan trái, từ khi lên đường vào Nam, các cán bộ chiến sĩ đều bị cắt đứt liên lạc một cách tuyệt đối với bố mẹ, anh chị em, bạn bè, vài năm, có khi hàng chục năm, mà không có một lá thư được nhận hay được gửi về nhà. Sự bặt tin thật là buồn đau độc ác. Đây là một nét độc đáo của cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến tranh không có thư từ của người cầm súng, đằng đẵng từ khi lên đường, cho đến khi trở về, lành lặn hay bị thương nặng nhẹ, hay thành người tàn tật suốt đời. Hoặc có khi tử trận, nhưng giấy báo tử để chậm vài năm là thường, vì chiến tranh khốc liệt, tử sỹ nhiều, đơn vị giải thể, tiêu tùng hết, nhiều đơn vị sát nhập vào nhau, sổ sách mất, cháy, chỉ huy thuyên chuyển liên miên, không có nền nếp chính quy, kiểu du kích, đại khái, lem nhem.
Cho đến chuyện quản lý tù binh Mỹ chặt chẽ, có sổ sách hàng ngày mà cuối cùng vẫn mất tích, không lý giải được, lên đến hơn 100 người, đủ biết công việc quản lý của quân đội thời chiến luộm thuộm ra sao.
Ở các nước văn minh, với quân đội hiện đại, họ rất quan tâm đến việc thông tin, thư từ gia đình quân nhân được chuyển nhanh nhất, chu đáo nhất đến tay chiến sĩ ngoài mặt trận. Đây là trách nhiệm, đền đáp thiết thực có ý nghĩa nhất những hy sinh của gia đình và các quân nhân. Ở Việt Nam, đảng Cộng sản cho việc cố tình bặt tin là biện pháp cưỡng bức để các chiến sĩ không còn suy nghĩ thao thức mong chờ thư đi từ lại, một lòng một dạ hy sinh chiến đấu cho những mục tiêu riêng của đảng. Đây là món rất độc của chiến tranh tâm lý. Vì nếu tự do thư từ, thông tin, các chiến sĩ sẽ kể về những trận đánh thiêu thân, cả đơn vị chết quá nửa như sau tết Mậu Thân thì hậu phương sẽ bị chấn động, rất nguy hiểm để kêu gọi tiếp những đợt «sinh Bắc tử Nam», mà phần lớn sẽ không trở về.
Ngoài hàng mấy chục vạn oan hồn trên đây, tôi không thể không nhắc đến vài vạn người chưa chết nhưng bị những oan khiên dằn vặt không kém các oan hồn kể trên. Họ rất đáng thương, nhưng xã hội đã lãng quên họ.
Đó là chừng 20.000 cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân (theo thống kê chưa đầy đủ của Cục quân lực Bộ Tổng tham mưu) vào Nam bị chiêu hồi bởi Việt nam Cộng hòa, sau chiến tranh trở về gia đình ở miền Bắc, đã bị hỏi tội, bỏ tù, cải tạo, trả thù, bôi xấu, hạ nhục, hành hạ ra sao, bị gia đình xỉ vả, láng giềng khinh miệt, không sao ngẩng mặt lên được. Theo tôi biết, rất đông anh em đó ở Hà Nội, Hà đông, Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Nghệ Tĩnh… Một số bảo mạng, cầu an, không chịu được gian khổ, căng thẳng, nhưng không ít có ý nghĩ lành mạnh, không đang tâm bắn vào anh em trong một cuộc huynh đệ tương tàn phi lý vô đạo nên đã chịu chiêu hồi, hy vọng khi chiến tranh kết thúc, không ai nỡ trị tội mình. Đã có nhà văn nào nói lên thảm cảnh của số anh em bị chiêu hồi rồi trở về quê quán này để tiếp tục bị oan khiên, kêu trời không thấu này. Đã có tổ chức xã hội nào cúi xuống nâng đỡ các số phận đen đủi này, tất cả chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh phi lý vô đạo do đảng Cộng sản gây nên vì những mục tiêu và cuồng vọng riêng.
Nếu tôi tham gia dựng lên những bộ phim về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tôi sẽ nói đến bản chất của chiến tranh, qua những mặt tối, những góc tối bị che dấu, bị che lấp, nhưng oan hồn, những nỗi oan trái chưa được biết, để có thể nói lên hết mặt trái của cuộc chiến tranh không anh hùng, chẳng oanh liệt, một cuộc nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn đáng hổ thẹn, đáng sám hối. Tít bộ phim có thể là «Những oan hồn – hay mặt trái của chiến tranh», hay «Một cuộc chiến đầy dối trá», cũng có thể là «Cuộc chiến của những người nô lệ», vì đảng Cộng sản tự nguyện làm nô lệ cho học thuyết Mác – Lênin, rồi qua đó bắt nhân dân, quân đội làm nô lệ cho những tham vọng riêng của đảng, để cho đất nước lạc hậu, tàn lụi đổ nát, bất công như hiện nay.
Ông Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Sài Gòn, một đảng viên cộng sản kỳ cựu rất có lý khi đề nghị mỗi ngày kỷ niệm 30/4 là một cuộc Sám hối và xin lỗi của đảng Cộng sản đã chủ động gây nên những tổn thất về sinh mạng, tài sản, thời gian của dân tộc đến mức quá sức chịu đựng của nhân dân, để lịch sử có thể sang trang, đất nước có một chế độ chính trị dân chủ, độc lập thật sự, lãnh thổ toàn vẹn, có nhân quyền, phát triển phồn vinh cho toàn xã hội.

Bùi Tín

Hải Đội 4 Duyên Phòng

Phùng Học Thông

Lời nói đầu.

Tập tài liệu về Hải Đội 4 Duyên Phòng này được hình thành là do rất nhiều người đã đóng góp, họ là những  cựu Thuyền Trưởng, Thuyền Phó, Đoàn Viên Thủy Thủ đoàn, Nhân viên và Hạ Sĩ Quan phục vụ tại Bộ Chỉ Huy Hải Đội. Và hơn nửa, một vài Sĩ Quan cấp chỉ huy và một số Sĩ Quan bạn phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải.

Như lời giới thiệu của Báo Lướt Sóng số 61 phát hành nhân ngày Húy Nhật Đức Trần Hưng Đạo năm 2007 đã đăng trích đoạn tài liệu, mục đìch tiếp tay kêu gọi các cựu Hải Quân thuộc HĐ4DP cũng như một số bạn bè thuộc HĐ5 Duyên Phòng và các Hải Đội khác nếu biết tin tức hoặc chi tiết thì xin đóng góp hầu hoàn thành tài liệu này.Cám ơn báo Lướt Sóng.

Tài liệu được bắt đầu soạn thảo từ tháng 8 năm 2006 theo những gì còn nhớ được qua trải nghiệm của từng cá nhân, kiểm chứng ngày tháng và năm bằng tài liệu Hoa Kỳ là báo cáo của NAVFORV háng tháng từ năm 1967 đến năm 1971.Các số hiệu của PCF bàn giao và ngày bàn giao có được do tài liệu của website swift boats của Hoa Kỳ.

Với lời cám ơn đến các bạn HQ các Khóa. Các anh Nguyễn An Cường, Nguyễn Minh Tú, Vương Thế Tuấn, Lương Văn Phước, Đặng Trọng Đính đã khuyến khích tôi ngay từ ngày đầu, các anh  Thuyền trưởng đầu tiên của 4 PCF với các tên của các HSQ và Đoàn viên trên tàu mình, các anh Nguyễn Đình Lâm, Đỗ Sĩ Thạc, Ninh Duy Định. Anh Lý Thành Thông, Trần Quốc Cường đã cho tin về các anh Thuyền Trưởng của 5 WPB, anh Nguyễn Đình Sài với chi tiết về HĐ5 DP,  anh là người biết nhiều về Thuyền Trưởng John Kerry, Trung úy Kerry sau này là TNS Mỹ, có thời ra tranh cử với Ông Bush, anh Bùi Đức Ly và anh Trần Ken đã giới thiệu tôi với rất nhiều Thuyền Trưởng khác để liên lạc, anh Phạm Hồng Ân, anh Vũ Đức Cương đã giúp rất nhiều chi tiết quí giá nhất là đã viết và kể lại chi tiết PCF 3806 đã bị Việt Cộng cướp tại ngoài khơi vùng Hòn Đất, giêt chết [chặt đầu) Thuyền Trưởng, Thuyền Phó, bắt đi Thũy Thủ đoàn vào những ngày tháng đầu năm 1975. Anh Cương còn nói là tôi có thể viết thành một cuốn tiểu thuyết với những tài liệu và tin này! Niên trưởng Mai Mộng Liễn, niên trưởng Lê Văn Quế và anh Nguyễn Ngọc Ẩn để biết thêm về tin tức này.Các anh Trương Đình Quí, Trương Thanh Việt, Dương Ngọc Lợi cho tên các anh Thuyền Trưởng và các anh xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt, anh Huỳnh Văn Phườc, Tạ Cự Nguyên với một số hình ảnh của PCF và nhân viên trên PCF, anh Châu Đình Lợi, một ngừơi đã giúp rất nhiều về chi tiết và tình trạng của Hải Đội cũng như trí nhớ của anh về quân số của đơn vị ở một thời điểm nào, anh Nguyễn Văn Tây người Việt đầu tiên mà tôi liên lạc sau khi vào website PCF của Hoa Kỳ. Anh Trương Văn Quang đã giúp rất nhiều về hình ảnh cũng như tài liệu của Hải Quân Hoa Kỳ trong giai đoạn 1966-1975.

Một số rất nhiều tên mà tôi không kể ra đây để cám ơn, xin các anh tha lỗi. Và khi nhìn vào danh sách Thủy Thủ Đoàn với tên hàng trăm người là SQ, là HSQ, là Đoàn viên xin các anh coi như đây là một lời cám ơn vì các anh  là những người đã làm nên Hải Đội 4 Duyên Phòng của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa.

Cám ơn những phương tiện kỹ thuật hiện đại đã giúp chúng ta liên lạc dễ dàng bằng điện thư vì tất cả chúng ta đều ở từ những nơi xa xôi trên đất Mỹ, đất Canada và đất Úc.

Người ghi chép và biên soạn.

Phùng Học Thông

Tháng 12 năm 2007.

Hải Đội 4 Duyên Phòng  (1967-1975)

Hải Đội 4 Duyên Phòng [1] được chánh thức thành lập sau khi nhận lãnh 4 PCF mark II tại An Thới vào ngày  19 tháng 7 năm 1968. Đây là 4 PCF đầu tiên được chuyển giao cho HQVN, các chiến đỉnh nầy được đưa đến Việt Nam trên một LSD Hoa Kỳ, và tấtcả trang bị và vũ khí cá nhân đều được chứa trong thùng .

Trở lại thời gian trước khi nhận lãnh các PCF nầy thì trên thực tế, Hải Đội 4 đã được

khai sanh vào khoảng giữa năm 1967 với một số nhân viên và Sĩ Quan tình nguyện từ

Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải. (Thời gian đó còn gọi là Bộ Chỉ Huy Vùng 4 Duyên Hải) họ đã được gởi thưc tập trên các PCF và WPB của Hải Quân Hoa Kỳ thuộc Coastal Squadron 1 và PCF Division 101 tại An Thới.

Vào cuối năm 1967 và đầu năm 1968 thì một Bộ Chỉ Huy cho Hải Đội 4 được xây cất. Danh xưng của Hải Đội 4 lúc nầy là Hải Đội 4 Duyên Tốc Đĩnh.

Bo chi huy HD4DP. Photo by PHTjpgBộ Chỉ Huy của Hải Đội 4  năm 1968  trước khi nhận lãnh bàn giao các PCF.                         

Chương trình huấn luyện  Thủy thủ đoàn do  Vùng 4 Duyên Hải và PCF Division 101 đảm nhận .Sĩ Quan điều hợp huấn luyện Việt Nam lúc đó là HQ Tr/úy Trầm Hữu Tạo K14, thuộc phòng Huấn Luyện của Vùng 4 Duyên Hải. Các Sĩ Quan và Đoàn Viên Việt Nam được gởi trên các PCF Hoa Kỳ để được huấn luyện khi các chiến đỉnh nầy đi tuần ở những vùng Market Time 9D đến 9L. Thời gian huấn luyện của những Thủy thủ đoàn đầu tiên nầy đã được thưc hiện từ năm 1967 dưới thời của  HQ Đại Tá Phùng Nhật Tân K2, đến lúc  nhận lãnh 4 chiến đĩnh đầu tiên là thời gian của TL/V4, HQ Đại Tá Đặng Cao Thăng K1 Brest.  Quân số HĐ  lúc đó có 71 người, gồm SQ và Đoàn Viên.  48 người được trang bị cho 8 Thủy thủ đoàn của 4 PCF (Mỗi PCF có hai Thủy Thủ đoàn) số còn lại là những nhân viên ứng trực, nhân viên sửa chữa và người chờ bổ sung cho các Thủy thủ đoàn tương lai ..

Buổi lể bàn giao 4 PCF  từ 3800  đến 3803 ngày 19 tháng 7 năm 1968  tại cầu tàu An Thới.Phú Quốc.(tài liệu nguồn All Hands Nov.1968)

Sau khi nhận bàn giao,  4 PCF mới nầy được lấy số từ HQ 3800 đến HQ 3803, các SQ Thuyền Trưởng cho Thủy thủ đoàn (1) theo thứ tự  số tàu là  HQTr/úy Huỳnh Công Phuơng, HQTr/úy Văn Trung Thu, HQTr/úy Phùng Học Thông và HQTr/úy Nguyễn Văn Đông, tất cả thuộc K14, và các SQ Thuyền Trưởng của Thủy thủ đoàn (2) là HQTr/úy Lê Khánh Dư, HQTr/úy Lương Văn Phước,HQTr/úy Đặng Trọng Đính và HQTr/úy Phạm Đình Phùng, tất cả thuộc K15.[2] 

Vùng tuần tiểu trách nhiệm là 2 vùng Market Time.Thủy thủ đoàn đi tuần 24 tiếng và nghỉ 48 tiếng, giống như tiêu chuẩn của PCF Division 101

Khoảng hơn tháng sau,cuối tháng 8 năm 1968 thì Hải Đội nhận lảnh thêm 2  PCF mark II tai HQCX Saigon. Hai PCF nầy được lái về An Thới có số HQ 3804 , và    HQ 3805. Thuyền Trưởng của hai PCF nầy là các anh HQTr/úy Lê Văn Quí K14,  HQTr/úy Trương Minh Hoàng K14, HQTr/úy Vương Thế Tuấn K15, và HQ Th/úy DV Lê Văn Ngọ. Th/úy DV Nguyễn Văn Tường là Thuyền phó trên 3805 sau đó.

Trong giai đoạn đầu, Hải Đội 4 chưa có người chánh thức đảm nhiệm chức vụ Hải Đội Trưởng, Tham Mưu Trưởng Vùng 4 là HQ Trung Tá Hà Văn Ngạc kiêm chức vụ  nầy, từ năm 1968 và danh xưng Hải Đội là Hải Đội 4 Duyên Phòng từ năm 1969. Chỉ Huy phó HĐ là HQĐ/úy Nguyễn Đình Lâm K12.

Tháng 10 năm 1968, Hải Đội nhận lãnh thêm 2 PCF mark II tại Đà Nẳng và lái về Phú Quốc đó là hai chiến đỉnh HQ3806 và HQ3807 do HQTr/úy Nguyễn Văn

Mạnh K13 và HQĐ/úy Lê Như Bái K12 làm Thuyền trưởng. Hướng dẫn nhận lãnh

là HQ Đ/úy Nguyễn Đình Lâm K12.

Cuối năm 1968, Hải Đội nhận lãnh thêm 4 PCF mark II tại Đà Nẵng, HQ3808, 3809

3810 và 3811. HQTr/tá Hà Văn Ngạc đã hướng dẫn nhận lãnh 4 PCF này. Thuyền trưởng là Th/úy DV Nguyễn Văn Tường, HQ3808 soái đĩnh vì có Tr/tá Ngạc hiện

diện, HQTr/úy Ninh Duy Định K14, HQ3809, HQTr/úy Trương Công Hải, K14 HQ3810 và HQTr/úy Đỗ Sĩ Thạc K14, HQ 3811.

Huy hieu HD4DP. TVQ Collection.

Huy hiệu HĐ4DP (hình sưu tầm của anh Trương Văn Quang)

Tháng 4 năm 1969,Hải Đội nhận lãnh 2 PCF mark I tại Saigon là các PCF có số HQ3812 và HQ3813.HQTr/úy Vương Thế Tuấn,người hướng dẫn, Thuyền trưởng HQ3812., và HQTr/úy Đặng Trọng Đính, Thuyền trưởng HQ3813.                      

Tháng 5 năm 1969, một số 88 người gồm các Đoàn viên và Sĩ Quan được Bộ Tư Lệnh Hải Quân gởi đến Hải Đội để được huấn luyện và sau đó được đưa đi Cát lở, Cam Ranh, Qui Nhơn, Chu Lai và Đà Nẳng theo chương trình START (Swift Training And Rapid Turn Over on the job training) cho các đợt chuyển giao 49 PCF vào  năm 1970.

Thời gian nầy,quân số của Hải Đội 4 được bổ sung một cách nhanh chóng, chuẩn bị nhận lãnh thêm các PCF mới. Riêng về Sĩ Quan, có khoảng trên 50 SQ, đa số thuộc K17 được đưa đến Hải Đội  để được huấn luyện và các SQ K14 một số thuyên chuyển đi  đơn vị mới và một số cùng với Sĩ Quan Khóa 15 được thuyên chuyển đến Vùng 3 Duyên Hải chờ tiếp nhận các Tuần Duyên Đỉnh WPB.

Chỉ Huy Trưởng Hải Đội 4 Duyên Phòng lúc này là HQ Tr/tá Trịnh Kim Thanh K5  và  tiếp đến là HQ Th/tá Nguyễn Quang Tộ thuộc K6. Chỉ Huy Phó HĐ, HQ Đại úy Nguyễn Đình Lâm K12 , kế tiếp là HQ Đ/úy Nguyễn Minh Tú  K14 (1969-1970) 

Tháng 4 năm 1970, để chuẩn bị cho cuộc Hành Quân sang Kampuchea , 5 chiếc WPB

thuộc Hải Đội 3 Duyên Phòng được gởi đến An Thới là HQ720, HQ722, HQ723, HQ724 và HQ725  do các SQ thứ tự sau đây là Thuyền Trưởng: HQ Tr/úy Nguyễn Minh Hải K16, HQ Tr/úy Lý Thành Thông K16, HQ Tr/úy Nguyễn Văn Thịnh K15, HQ Tr/úy Liêu Chơn K15 và HQ Tr/úy Trần Quốc Cường K15

Riêng về PCF, thì Hải Đội 4 lúc đó có trên 100 SQ  là Thuyền Trưởng và Thuyền Phó các PCF. Con số nầy được kể  luôn cho  các SQ đang được huấn luyện chờ lãnh các PCF đợt kế tiếp.

Ngày 10 tháng 6 năm 1970, tại An Thới, HQ Hoa Kỳ  chuyển giao các PCF 17, PCF 37, PCF 52, PCF 64, PCF 71 và PCF 73 cho Hải Đội 4, đó là các PCF lần lượt có số, 3815, 3816, 3817, 3818, 3819 và 3820. [4]

Tháng 10 năm 1971, trận bão Hester thổi vào Duyên Hải Việt Nam, một số WPB của Hải Độí 1 Duyên Phòng bị thiệt hại trong trận bão. Các WPB trực thuộc Hải Đội 4 đã được điều động đến Hải Độí 1, từ đó không còn sự hiện diện của các WPB  Việt Nam tại Phú Quốc. Các WPB của HQHK thì thường xuyên họat động tại vùng mũi Cà  Mau và Năm Căn trong cuộc hành quân Sea Float va Solid Anchor.

WPB va PCF của Hải Độí 1 Duyên Phòng bị thiệt hại trong trận bão Hester tháng 10 năm 1971 (photo: 40 years today – A Vietnam War Timeline)

PCF và sự có mặt của loại chiến đĩnh nầy tại chiến trường Việt Nam.

PCF chử viết tắt của Patrol Craft Fast, một loại chiến đĩnh được đóng và trang bị cho

Hải Quân Hoa Kỳ sử dụng tại chiến trường Việt Nam vào năm 1965.

PCF hay tiếng Việt gọi Duyên Tốc Đĩnh được HQHK đặt đóng tại Xưởng Đóng tàu Seawart Seacraft, thành phố Berwick.Tiểu bang Louisiana.

Bốn PCF đầu tiên được hoàn tất tháng 9 năm 1965.PCF 1 và PCF 2 được đưa đến Coronado, Tiểu Bang California,để sử dụng huấn luyện. PCF 3 và PCF 4 được đưa đến Căn Cứ HQ ở Subic vào những ngày giửa tháng 9 năm 1965 và chờ các Thủy Thủ đoàn,và sau đó được đưa đến An Thới vào ngày 28 tháng 10 năm 1965.

Về đặc tính thì loại chiến đĩnh nầy được coi như thích ứng cho việc tuần tiểu vùng ven biển với độ sâu thích hợp cho ghe tàu nhỏ thường xuyên hoạt đông và hiện diện ở Duyên Hải Việt Nam. Với tốc độ nhanh có thể truy chận và có mặt tại vùng chỉ định trong một thời gian ngắn.Tầm hoạt động từ 200 đến 780 hải lý tùy theo vận tốc.

Duyên Tốc Đĩnh Mark I với những đặc tính sau:

                                  Dài : 50 foot

                                  Trọng tấn : 23 tấn

                                  Vận tốc : 26 gút

                                  Máy chánh : 2 máy 12V71 General Motors

                                  Máy điện : Onan

                                  Nhiên liệu : 3 hầm dầu chứa 828 gallons

                                  Nước ngọt : 60 gallons

                                  Thủy thủ đoàn : 6-7 người.

    Trang bị trên chiến đĩnh:

                                 Radar Decca tầm xa 24 hải lý.

                                 Máy đo chiều sâu : 240 foot tối đa.

                                 Truyền tin :Giai tần đơn AN/VRC58,VRC/46,AN/PRC25…

                                 Vũ Khí : – Đại Liên 50 đôi,tác xạ điện,vị trí trên pháo tháp.

                                 – Súng cối 81 ly trực xạ và đai liên 50 ghép chung .          

                                 – Vũ khí cá nhân M16, phóng lựu M79…

                                 – Ống dòm hồng ngọai tuyến.

Hình PCF mark 

I. Trích từ nguồn ảnh PCF-website  pcf45.com

Duyên Tốc Đĩnh Mark I  của Hải Đội 4 Duyên Phòng gồm có : các PCF có số 3812, 3813 ,  3814, 3815, 3816, 3817, 3818, 3819, 3820, 3821,3822, 3902, 3920, 3926.

Duyên Tốc Đĩnh Mark II của Hải đội 4 Duyên Phòng  : các PCF có số: 3800, 3801,3802, 3803, 3804, 3805, 3806, 3807, 3808, 3809, 3810, 3811.

Các Duyên Tốc Đĩnh Mark I, nhận lãnh lại từ PCF của Hoa Kỳ hoạt động từ năm 1966.

Các Duyên Tốc Đĩnh Mark II, được bàn giao từ các PCF mới đóng vào những năm 1968. Về hình dáng thì chiến đĩnh mark II,giống như mark I, nhưng  chiều dài của PCF mark II là 51 foot.,phần phía trước mủi được nâng cao và phòng lái được dời về phía sau khoảng  một  thước.                      Duyen toc dinh PCF HQ.3802PCF Mark II, HQ 3802 trên sông Giang Thành. Hình chụp năm 1969 (photo: Phung Hoc Thong)

Các PCF Hoa Kỳ Mark I, có số từ PCF 1 đến PCF 104, hoạt động trên vùng biển và sông của Việt Nam,trực thuộc các phân đội PCF: 11, 12, 13,Cam Ranh Qui Nhơn, Chu Lai.đã được lần lượt chuyển giao cho Hải Quân Việt Nam ở các Hải Đội 1, Hải Đội 2, Hải Đội 3, Hải Đội 4,và Hải Đội 5 Duyên Phòng[5] bắt đầu từ năm 1968 đến 1970

Trong số 30 PCF Mark II được đóng vào những năm 1968-1969 ,sau khi bàn giao cho HQVN, HQHK chỉ sử dụng tại Việt Nam  ba chiếc là các PCF 137, PCF 138 tại Cát lở và PCF 139 tại Đà Nẳng. Một số khác được ghi nhận là chuyển giao cho Phi Luật Tân, Thái Lan và một số nước khác.

Riêng về các PCF Mark III [6] được đóng vào các năm 1969-1972. Trong số 33 chiếc, chỉ có 5 chiếc được HQHK sử dụng tại Việt Nam là các PCF 691, 692, 693, 694 và 695.

Các PCF nầy đã được chuyển giao cho HQVN tại Vũng Tàu ngày  1 tháng 12 năm 1970 và lấy số theo thứ tự HQ 3933, 3934, 3935, 3936 và 3937.

Ngoài ra tại Việt Nam và Phi Luật Tân cũng đã đóng một PCF bằng Ferro Cement ở mỗi nơi với giá chi phí rẽ hơn và dỉ nhiên kém hiệu quả.

 WPB – loại Tuần Duyên Đĩnh mới tại vùng Duyên Hải Việt Nam.

Sau sự việc tàu tiếp tế vũ khí cho Việt Cộng  bị phát giác và  đánh chìm tại Vũng Rô ngày 16 tháng 2 năm 1965. Hải Quân Hoa Kỳ đã nhờ lực lượng Duyên Phòng Coast Guard thuộc Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ giúp gởi các tàu thuộc Duyên Phòng đến giúp Hải Quân tuần tiểu trên Duyên Hải Việt Nam,đặc biệt những tàu có thể hải hành vùng gần bờ dùng trong mục đích khám xét và truy chận.

Bộ Tư lệnh Coast Guard đả thành lập  Hải Đội 1 Coast Guard (Coast Guard Squadron One) ngày 29 tháng 4 năm 1965 và cho điều động 17 Tuần Duyên Đĩnh WPB gia nhập lực lượng nầy. 47 Sĩ Quan và 198 Đoàn Viên được chuyển đến Coronado để được huấn luyện. Ngày 12 tháng 6 năm 1965, Hải đội 1 Coast Guard được đặt dưới sự chỉ huy của lực lượng Hải Quân, Đệ Thất Hạm Đội  tại Thái Bình Dương và được gởi đến huấn luyện tại căn cứ Hải Quân Subic.                     .

Ngày 16 tháng 7, Phân Đội 12 với 8 WPB khởi hành đi Đà Nẳng  và ngày 24 tháng 7 thì Phân Đội 11 với 9 WPB khởi hành đi An Thới. Khi đến Việt Nam 17 WPB nầy đặt trực thuộc Task Force 71 vài ngày cho đến ngày 30 tháng 7 năm 1965 thì trực thuộc TF 115 khi lưc lượng nầy được thành lập để trực tiếp chỉ huy Hành Quân Market Time.

WPB Chử tắt của W Patrol Boat – Large, được gọi là Tuần Duyên Đĩnh trong Hải Quân Việt Nam.  Các WPB được đưa đến Việt Nam thuộc Class “A “và  “C”, có tên Hoa Kỳ  với chử   POINT  đứng đầu, được đóng tại Coast Guard Yard. Curtis Bay. Maryland ,vào những năm 1960 và 1961 [7].

Ở  lực lượng Coast Guard , những tàu và chiến hạm đều được gọi là Cutter, trưóc tên loại tàu có chữ W, ví dụ sau nầy các chiến hạm lớn trên 2000 tấn có tên WHEC (W  High Endurance Cutter) đến Việt Nam và sau đó được chuyển giao cho HQVN, có tên Tuần Dương Hạm.

Tuần Duyên Đĩnh –WPB Point Young  tại An Thới năm 1965. Tuần Duyên Đĩnh nầy được chuyển giao cho HQVN năm 1970 và có số HQ  714

                     Đặc tính của các  WPB  hoạt động tại Việt nam

                            Dài :   82 foot

                            Trọng tấn   : 67 tấn

                            Máy chánh :  2

                            Vận tốc  :   16.8 gút

                            Vũ khí  :  Súng Cối 81 bắn cò và Đại liên 50 ghép chung (sân trước)

                            Từ  2  đến  4  đại liên 50.

                            Vũ khí cá nhân M16 , M 79…

                            Thủy Thủ đoàn :  8 đến 10

Trong giai đoạn đầu của năm 1965, hai phân đội 11 và 12 hoạt động tại Vùng  phía Tây và Đông của Duyên hải Việt Nam, vùng Đông Nam còn trống, chưa có đơn vị nào đảm trách cho nên Bộ Hải Quân đã yêu cầu lực lượng Coast Guard gởi thêm 9 tàu WPB tăng cường. Phân đội 13 được thành lập với 9 WPB  vào ngày 12 tháng 12 năm 1965, khởi hành từ Subic đi Cát Lỡ ngày 18 tháng 2 năm 1966

Các WPB có khả năng chịu sóng cao và sau này thường được sử dụng tại vùng Duyên Hải Đà Nẳng, Nha Trang, Vũng Tàu .

Tại Vùng 1 Duyên Hải đã có những PCF bị chìm khi ra cửa biển vào những thời gian của mùa gió Đông Bắc, ít nhất 2 PCF đã chìm vì sóng gió quá lớn tại một cửa biển.

Các WPB tại Vũng Tàu đã vào sâu và hoạt động trên các sông Lòng Tàu, và các nhánh sông của sông Cửu Long , nơi có những Duyên Đoàn của Vùng 3 Duyên Hải trấn đóng.

WPB Hoa Kỳ trong những năm 1966, 1967, 1968 có rất nhiều công khi ngăn chận và phát hiện cũng như phá hủy những tàu Cộng Sãn VN chở vũ khí xâm nhập, nhất là trong năm 1966.

Cuối năm 1969, các WPB Hoa Kỳ đã  giảm đi những hoạt đông tại vùng Phú Quốc, An Thới, vì các vùng Market Time 9 đều do Vùng 4 Duyên Hải trách nhiệm, các WPB của Phân Đội 11 được điều động đảm nhiệm những công tác tuần tiễu hành quân tại vùng mủi Cà Mau và Duyên Hải Năm Căn.(Hành quân Sea Float và Solid Anchor).

Hải Đội 4 Duyên Phòng được biệt phái 5 WPB từ Hải Đội 3 Cát Lở vào giửa năm 1970. Các WPB nầy hoạt động tại An Thới từ 1970 cho đến năm 1971. Liền sau trận bảo Hester thổi vào Duyên Hải phía Bắc của Nam Việt Nam, các WPB Việt Nam hiện diện tại vùng Phú Quốc và Vịnh Thái Lan được đưa ra Vùng 1 Duyên Hải để tăng cường và thay thế những WPB bị thiệt hại vì trận bảo nầy.

Không như ở các PCF-Duyên Tốc Đĩnh, thủy thủ đoàn sống trên căn cứ bờ hoặc trên các Tạm trú hạm. Thủy thủ đoàn của WPB sống và sinh hoạt trên tàu của mình.Hệ thống máy điều hòa trên tàu đã giúp cho thủy thủ đoàn chịu đựng nổi thời tiết của vùng Đông Nam Á

Các WPB khi đến Việt Nam còn sơn màu trắng.Ngay ngày tuần tiễu đầu tiên gần vĩ tuyến 17, WPB Point Orient đã bị bắn bằng súng cối và súng liên thanh. Tàu màu trắng là mục tiêu dễ thấy trong đêm sáng trăng và ánh sáng hỏa châu. Ngày 21 tháng 9 năm 1965, CHT Lực lượng 115 liền chỉ thị cho các WPB phải sơn màu xám đậm. Point Orient chưa kịp thi hành, liền sau những chuyến tuần tiễu tiếp đó, chiến đĩnh bị tác xạ bởi chính đơn vị bạn, may mắn không có thiệt hại, WPB Point Orient lập tức được sơn màu xám đậm .

Hoạt động, tuần tiễu, hành quân của Duyên Tốc Đĩnh HĐ4DP.

1/ Bối cảnh lịch sử và tình hình xâm nhập vũ khí bằng đường biển của Việt Cộng.

Vào những năm đầu của thập niên 60,nhận thấy Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, với một lực lượng Hải Lực yếu kém vì thiếu phương tiện không thể đảm nhiệm một cách hoàn hảo việc canh phòng một bờ biển dài từ vĩ tuyến 17 đến biên giới Việt Nam ở vùng Vịnh Thái Lan, cho nên HQHK đã dùng một số chiến hạm của Đệ Thất Hạm đội tuần tiểu chận xét ghe thuyền trên Duyên Hải Việt Nam, mục đích ngăn chận sự xâm nhập vũ khí bằng đường biển và yểm trợ Hải Pháo.

Tháng 2 năm 1965, một tàu Cộng Sãn xâm nhập tiếp tế vũ khí bị phát hiện và bị đánh chìm tại Vũng Rô. Ta tịch thu được 100 tấn vũ khí, đạn dược được chế tạo tại Liên Sô và Trung Quốc. Đây là một bằng chứng là Cộng Sản đã dùng đường biển để tiếp tế và xâm nhập vào miền Nam.

Riêng về miền cực Nam và vùng Vịnh Thái Lan, những địa danh Cà Mau, U Minh, duyên hải tỉnh Rạch Giá, biên giới Việt Nam (Hà Tiên) và lãnh thổ Kampuchea, phía Bắc Đảo Phú Quốc là những nơi xâm nhập người và vũ khí của Việt Cộng vào Việt Nam Cộng Hòa, và cũng là những mật khu Việt Cộng.                  

Sau biến cố Vũng Rô, Hải Quân Hoa kỳ đề ra kế hoạch Hành Quân Market Time và phân ra những vùng tuần tiểu dọc theo Duyên Hải Việt Nam.

Lưc lượng Đặc Nhiệm 115 (CTF 115) được thành lập vào ngày 30 tháng 7 năm 1965 với 5 Trung Tâm Kiểm soát Duyên Hải (CSC) tại Đà Nẳng,Qui Nhơn,Nha Trang,

Vũng Tàu và An Thới để điều hành và giúp phối hợp các lực lượng tuần tiểu trên biển như các phân đội 11, 12 ,13 và 14 WPB và PCF.

Tại những vùng Duyên Hải, việc tuần tiễu từ bờ ra phía ngoài trong vòng 10 hải lý sẽ do những chiến đĩnh như PCF và WPB, ghe Duyên Đoàn đãm nhận. Phía ngoài là những Tuần Duyên Hạm (PGM), Hộ Tống Hạm (PCE,PCER), Khu Trục Hạm (DER), Tuần Dương Hạm (WHEC),tàu rà mìn  (MSO) của HQVN và HQHK trách nhiệm.

Các WPB và PCF báo cáo cho các MSO, Khu Truc Hạm,và những chiến hạm khác ở vòng ngoài cũng như về các Trung Tâm Kiểm soát Duyên Hải. Các chiến hạm vòng ngoài sẽ cung cấp tin tức cho WPB, PCF về các mục tiêu Radar, thông tin về hải hành.

Trong khi đó các PCF và WPB sẽ liên lạc cho tin đến các ghe Duyên Đoàn,yểm trợ Hải Pháo khi cần thiết.

Phân Đội 11 WPB của Hoa Kỳ đến vùng Phú Quốc liền bắt đầu công tác tuần tiễu cho Hành Quân Market Time. Ưu tiên cho kế hoạch hành quân nầy là:

                    1/ Kiểm soát sự di chuyễn của ghe tàu trong vùng trách nhiệm.

                    2/ Lục soát các ghe đang đánh cá trong vùng cấm.

                    3/ Kiểm soát các ghe đánh cá đang neo,chờ kéo lưới.

                    4/ Kiểm soát các ghe đánh cá đang kéo lưới.

Chỉ trong tháng đầu tiên của cuộc hành quân, phân đội 11 đã khám xét trên 1000 ghe xuồng đánh cá và di chuyển, hơn 4000 người được khám xét.Hiệu quả của cuộc hành quân được thấy rõ, vì các ghe xuồng đánh cá thường xâm nhập vào những vùng cấm,một khu vực mầu mở cá tôm và thường bị chi phối bởi sự kiểm soát của Việt Cộng vì gần bờ và dễ thu lợi.

Việt Cộng đã mỡ một chiến dịch tuyên truyền là Hải Quân Mỹ và VNCH đuổi các ghe dân đánh cá ra chổ khác để dành cho các tàu đánh cá của Mỹ vào đánh cá tôm tại các vùng nhiều cá tôm nầy..Hải Quân VNCH và Hải Quân Hoa Kỳ, các ghe Duyên Đoàn phải dùng biện pháp Tâm Lý Chiến để đáp ứng bằng cách giải thích, phát những tài liệu hướng dẫn, các lá cờ VNCH, thuốc men, quà tặng cho dân đánh cá trong những chuyến tuần tiễu, chận xét.

Chỉ trong vòng hai tháng 5 và 6 của năm 1966, đã có hai tàu sắt của Bắc Việt bị các WPB phân đội 11 và chiến hạm bắn chìm và bắt giữ tại các cửa Bồ Đề và Ba Động.

Vũ khí trên tàu xâm nhập tại Ba Động bị ta tịch thu từ 8o đến 100 tấn. Những vũ khí nầy là để tiếp tế cho quân Bắc Việt và Việt Cộng không những dùng cho chiến truờng tại Quân Khu 4 mà còn dùng tại chiến trường Quân Khu 2.

II /  Hoạt động tuần tiễu và hành quân của PCF Hải Đội 4 Duyên Phòng.

Từ giữa năm 1968, sau  khi nhận lãnh 4 PCF đầu tiên, Hãi Đội 4 được giao hai vùng tuần tiễu Market Time 9F và 9G,vùng Rạch Giá và vùng Quần Đảo Bà Lụa , ngoài khơi  Kiên Lương. Sau đó với số lượng  6 PCF, nhận thêm hai vùng 9I và 9J/K .PCF của Hoa Kỳ và PCF Hải Đội 4 sau đó luân phiên thay đổi trên các vùng từ 9D đến 9L.

Bản đồ phân vùng tuần tiễu Market Time

                                                

Năm 1968, một năm đã để lại nhiều ấn tượng trong chiến tranh Việt Nam dưới mắt của người Việt Nam và người Mỹ. Trận Tổng Tấn công của Cộng Sản đã là dấu hiệu cho thấy Việt Cộng đã có mặt tại miền Nam với một lưc lượng đáng kể và có chiều hướng mở ra những trận đánh lớn tại các vùng mà chúng đang giữ thế mật khu an toàn, và những vùng dễ xâm nhập do vị trí địa lý và chánh trị,vũ khí mà cộng sản sử dụng cho thấy là những cuộc xâm nhập vũ khí và tiếp tế của họ phần lớn qua các cửa ngõ biên giới và đường biển..Qua cuộc tấn công nầy, măc dù sự thiệt hại của Việt Cộng là lớn với những tổn thất nhân mạng và vũ khí đã  làm chậm trễ những kế hoạch tấn công  lớn bắng chiến tranh qui ước trong tương lai, nhưng xét ra thì nó  đã dẫn  đến sách  lược tương lai của người Mỹ là  nhanh chóng giao lại trách nhiệm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa  đảm trách cuộc chiến Việt Nam, rút bớt quân đội tham chiến, xoa dịu những chống đối của dân chúng, giữ ghế  cho những cấp lãnh đạo chánh trị và những người được dân cử tại Quốc Hội.

Phó Đô Đốc Zumwalt được thuyên chuyển đến Việt Nam trong thời gian nầy [8], ông muốn Hải Quân Hoa Kỳ trở nên có hiệu quả hơn và kế đến là thực hiện kế hoạch bàn giao trách nhiệm cho Hải Quân Việt Nam qua những chương trình và kế hoạch huấn luyện,  chuyển giao, thúc đẩy nhanh chóng việc thực hiện Việt Nam hóa cuộc chiến thi hành  kế hoạch của hành pháp Hoa Kỳ. [9]

Nhìn lại việc xâm nhập và tiếp tế vũ khí của Cộng Sản, ông đã mau chóng thiết lập kế hoạch và thực hiện những cuộc hành quân mang tên SEALORDS. Ngoài mục tiêu chận đứng việc xâm nhập, hành quân nấy còn chú trọng nhiều về việc bình định những vùng mà trước kia là những vùng kiểm soát và  là mật khu của Việt Cộng.

Riêng tại Vùng 4 Duyên Hải, vùng biên giới Miên và Hà Tiên là nơi đang được Cộng Sãn dùng để xâm nhập cán bộ và vũ khí vào lãnh thổ  Việt Nam qua cửa ngõ hải cảng Kompong Som. Chánh quyền Sihanouk đang làm ngơ và thầm liên kết với Hà Nội dùng nơi nầy để tiếp nhận vũ khí của các nước Cộng Sãn tiếp tế cho các lực lượng võ trang của Bắc Việt tại miền Nam.

Các PCF Hoa Kỳ được lệnh vào sông Giang Thành và Kinh Vĩnh Tế, thời gian giữa tháng 10 năm 1968, đây là bước đầu tiên của cuộc hành  quân SEALORDS [10] (hành quân Trần Hưng Đạo) vào tháng 11 năm 1968.

Nguyên vào ngày 14 tháng 10 năm 1968, PCF 3 của Hoa Kỳ biệt phái Hà Tiên, được tin có một trạm thu thuế của Việt Cộng đang hoạt động trên sông Giang Thành, cách Hà Tiên một khoảng cách ngắn. Thuyền Trưởng PCF 3 là Trung úy Bernique đang nghỉ bến tại Hà Tiên bèn khởi hành đến nơi để ngăn chận. Nhân viên thu thuế Việt Cộng và 7 Du Kích đang làm việc đã ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện của PCF và chỉ nổ súng khi thấy lá cờ Mỹ, lúc đó chỉ cách nhau khoảng 30 m. PCF bắn trả, 3 VC  chết tại trận. Nhiều giấy tờ, tài liệu và vũ khí được tịch thu.Đây là vùng mà PCF không được phép hiện diện cho nên sự việc nầy đã bị Quốc Trưởng Cam-Bốt là Sihanouk phản đối, và cho là thường dân Miên bị Mỹ sát hại. Trung Úy Bernique được gởi về Saigon để điều tra và sau đó được Đô Đốc Zumwalt ban thưởng huy chuơng thay vì tờ giấy phạt.

Hai ngày sau, tức là ngày 16 tháng 10, Đô đốc Zumwalt đã chỉ thị PCF vào tuần tiễu sông Giang Thành cho đến đầu nối của Kinh Vĩnh Tế với sông nầy. Chỉ nội trong 5 ngày đầu tiên, Việt Cộng đã phản ứng bằng một cuộc chạm súng giửa PCF và một đơn vị VC khoảng 2 Đại Đội.Sang tháng 12 thì các PCF Hoa Kỳ thường xuyên chạm súng với VC trong vùng. Tổng kết trong tháng 12/1968 có:

                                 3 HQHK và 1 HQVN chết.

                                28 HQHK và 1 HQVN  bị thương    

                                17 PCF bị thiệt hại nhẹ. Việt Cộng có 119 chết, 47 bị thương.

Các Duyên Tốc Đĩnh của Hải Đội 4 bắt đầu vào sông vào tháng 12 năm 1968. PCF 3802 và PCF 3805 đã được biệt phái Hà Tiên dài hạn để tuần tiễu trên sông Giang Thành cùng các PCF Hoa Kỳ.

PCF HQ.3802    PCF 3802 đang tuần tiểu trên sông Giang Thành đầu năm 1969. Hình chụp từ PCF 3805 ,2 PCF vùa được sơn lại tại Hà Tiên để đón Tết Nguyên Đán. Các số tàu chưa được vẻ lại vì sợ phai mất khi chạy nhanh (photo: Phung Hoc Thong)

Ngày 11 tháng 5 năm 1969, lúc 18.30 giờ, hai PCF 3802 và 3805 trong khi tuần tiểu trên sông Giang Thành đã bị Việt Cộng phục kích bằng B40 và đại liên. Các chiến đĩnh nầy chống trả . PCF 3805 do  HQ Trung úy Trương Minh Hoàng làm thuyền trưởng đã trúng nhiều trái đạn B40, hệ thống truyền tin và Radar bất khiển dụng, một nhân viên bị thương, trên PCF 3802 một nhân viên bị thương nơi sân sau.Việt Cộng đã bắn trên 40 trái đạn B 40 trên một đọan sông dài 50 thước. [11]

Các PCF Hải Đội 4 và các PCF Hoa Kỳ thường xuyên bị phục kích trên đoạn đường từ ấp Trà Phô đến đoạn nối với Kinh Vĩnh Tế vào những lúc trời sập tối và khoảng giửa đêm.

Cũng vào thời gian cuối năm 1968, những cuộc tuần tiễu trong hành quân Search Turn đã đưa PCF Hoa Kỳ vào sông Cái Lớn, Rạch Giá. Các PCF Hải Đội 4 cũng đã tham dự. Ngày 27 tháng 12 năm 1968, 2 PCF Việt Nam đầu tiên vào sông Cái Lớn, hoạt động trên một đoạn đường dài 25 hải lý đến Chương Thiện.

Hải Đội 4 vì không đũ PCF tham dự hành quân Search Turn nên phần lớn các PCF Hoa Kỳ  trách nhiêm hành quân nầy cùng một số ghe Duyên Đoàn 43. Đôi khi những PCF Hải Đội đi tuần vùng 9D hoặc 9E, lúc mãn công tác và được thay thế thì được điều động vào sông Cái lớn hoạt động cho đến gần giửa đêm mới khởi hành về An Thới nghỉ bến.

Cuộc Hành quân vượt biên giới sang Cam Bốt năm 1970 tại vùng 4 Duyên Hải.

Dưới chiêu bài Trung Lập và thành viên của những nước phi liên kết,nước Cam Bốt, láng giềng của Việt Nam Cộng Hóa dưới sự lãnh đạo của Quốc Vương Sihanouk theo duổi một chánh sách thân Cộng Sãn,chống Hoa Kỳ. Ông đã để Bắc Việt dùng lãnh thổ Cam Bốt xâm nhập vũ khí và nơi trú đóng quân.

Tại Vùng Vịnh Thái Lan, vũ khí của khối Cộng Sãn công khai được đưa đến hải cảng Kompong Som và sau đó thì dùng biên giới Việt Nam Cộng Hòa và Cam Bốt để đưa sâu vào miền Nam.

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, Tướng Lon Nol đảo chánh Sihanouk bằng cách dùng áp lực bắt Quốc hội Cam Bốt bất tín nhiệm Sihanouk khi ông ta đang công du Pháp.

Lon Nol thành lập chánh phủ bang giao tốt với Hoa Kỳ.

Phùng Học Thông

Tháng12 năm 2007.


[1] Danh xưng Hải Đội 4 Duyên Phòng chỉ chánh thức được gọi khi Lực Lượng Duyên Phòng 213 được thành lập.Tuy nhiên Hải Đội 4 vì có thể coi như được thành lập trước các Hải Đội khác và ngay cả LLDP 213 cho nên tên gọi của đơn vị nầy  có sớm hơn.

[2] Mỗi PCF có hai Thủy Thủ đoàn, dể khi Thủy Thủ đoàn mãn công tác tuần tiễu về đến bến nghỉ ngơi thì Thủy Thủ đoàn thứ hai sẽ đi tuần trên PCF nầy sau khi được tiếp tế nhiên liệu, nước ngọt và đạn dược.

[3] Cùng lúc tại TTHL/Cam Ranh có 200 Thủy Thủ đoàn PCF được huấn luyện, các PCF Mỹ hàng tuần đến để đưa các thủy thủ đoàn đi tuần tiễu thực tập trên chiến đĩnh.

[4] Không ghi nhận được PCF 3814 được chuyển giao vào lúc nào. Người viết sẽ bổ túc khi đối chiếu và phối kiểm được tài liệu. Trong cuộc hành quân sang Kampuchea vào tháng 4 năm 1970, và cuộc di tản Kiều bào Việt Nam về Rạch Giá sau đó, chỉ có 12 PCF của Hải Đội 4 tham dự cùng 18 ghe Duyên Đoàn.Các WPB chỉ hiện diện ngoài khơi.

[5] PCF 1 và PCF 2 được sử dụng huấn luyện tại Coronado-California. Các PCF 7, PCF 8, PCF29, PCF 30 PCF 33, PCF 34 không thấy được sử dụng tại Việt Nam.Đó là những PCF được giữ lại để huấn luyện hoặc hoạt động tại Phi Luật Tân (theo Coastal Squadron One-Swift Boat Crew Directory ).

[6] PCF Mark III cùng có dặc tính như Mark I và Mark II, tuy rằng có rộng hơn hai loại trước một chút. Sau chiến tranh Việt Nam, HQHK đã cho đóng các loại PCF Mark IV và Mark V tại các xưởng đóng tàu Swiftships và Peterson với các PCF có chiều dài  63 foot và trọng tấn 33 tấn.

[7] J Moore.Captain. USN- Jane’s American Fighting Ships of the 20th century, xuất bản 1991.Nxb The Mallard Press (trang 306).

[8]W. C. McQuilkin, Lcdr,USN-Operation Sealords: A front in a frontless war, an analysis…1997..(trg18) Đô Đốc E. Zumwalt đến Việt Nam tháng 9 năm 1968. Khi ở Washington, ông có nhiều quan hệ với Paul Nitz là Bộ Trưởng Hải Quân cho nên biết được cuộc chiến không được công luận Mỹ hậu thuẩn. Ông nghĩ là  Đãng Cộng Hòa sẽ để ông có thời gian thực hiện kế hoạch trang bị và huấn luyện cho HQVN.

[9] HQHK có trên 38,000 người đang phục vụ tại các đơn vị  biển và sông trên chiến trường Việt Nam.

[10] Sealords tên của Chiến Dịch Hành Quân phối hợp giửa các đơm vị Việt Nam, Hoa Kỳ, với sự  yểm trợ của Không Quân. Chiến dịch Sealords có những cuộc hành quân sau:Hành quân ngăn chận Search Turn, vùng Rạch Giá –Long Xuyên, hành quân Trần Hưng Đạo vùng sông Giang Thanh và Kinh Vĩnh Tế, hành quân Giant Sling Shot vùng Mỏ Vẹt, hành quân Barrier Reef vùng Kinh Lagrange, Kinh Ong Lơn.

[11] Sáng sớm hôm sau ghe Duyên Đoàn 44 được PCF Hoa Kỳ yểm trợ đổ bộ khu vực chạm súng đã tìm thấy dấu vết của một cuộc chuyển quân qua sông từ hướng lãnh thổ Miên sang bờ của Việt Nam.